|
CHUYỆN BÀI HÁT "O HOLY NIGHT"
Phạm Hoàng Nghị
(theo Ace Collins)

Chuyện
kể về ca khúc “O Holy Night“ khởi điểm ở nước Pháp,
nhưng sau đã lan ra khắp thế giới. Ca khúc thật giản dị này,
phát khởi do lời yêu cầu của một giáo sĩ, sau này chẳng
những đã trở thành một trong những ca khúc giáng sinh được
ưa chuộng nhất mà còn đánh dấu một cuộc cách mạng kỹ thuật
đã mãi mãi thay đổi phương thức truyền đạt âm nhạc đến quảng
đại quần chúng.
Vào năm
1847, Placide Cappeau de Roquemaure là một ủy viên thương
chính phụ trách về rượu tại một tỉnh nhỏ nước Pháp. Ông ít
đi lễ nhà thờ nhưng lại có tài làm thơ. Và ông rất đỗi ngạc
nhiên khi được cha xứ nhờ sáng tác một bài thơ để đọc trong
thánh lễ giáng sinh. Thi sĩ ít lễ lạy này dẫu sao cũng rất
hân hạnh được thi thố tài năng cho giáo xứ.
Trên
chiếc xe ngựa lọc cọc lăn bánh qua con đường gồ ghề bụi bặm
dẫn đến thủ đô Pháp quốc, Cappeau suy nghĩ về lời yêu cầu
của vị linh mục. Bài thơ sắp sáng tác dĩ nhiên phải là một
bài thơ đạo, trọng điểm là lễ giáng sinh, và dựa vào thánh
kinh. Ông đã dùng Phúc âm thánh Luca làm chỉ dẫn. Cappeau
tưởng tượng ông đang chứng kiến việc Chúa Hài Đồng sinh hạ
tại Belem. Ý nghĩ đươc hiện diện trong đêm cực thánh đó đã
gây thi hứng cho ông sáng tác, và khi chiếc xe tới Paris thì
ông đã hoàn thành bài thơ “Cantique de Noel” (Bài ca giáng
sinh).
Phấn
khởi với sáng tác của mình, ông quyết định đó không chỉ đơn
thuần là một bài thơ mà còn phải là một ca khúc đuợc một
nhạc sĩ tài ba phổ nhạc. Không có năng khiếu về âm nhạc,
Cappeau tìm đến bạn mình là Adolphe Charles Adams để nhờ
giúp.
Adolphe
sinh năm 1803, lớn hơn Cappeau 5 tuổi, là con một nhạc sĩ cổ
điển thời danh và đã học tại nhạc viện Paris. Tới năm 1829
Adolphe đã hoàn thành nhạc kịch Pierre et Catherine. Tiếp
theo sau thành công đó là Richard en Palestine, rồi
đến các vũ khúc ballet viết cho các nhạc kịch Faust, la
Fille du Danube, La Jolie Fille de Gand. Tài năng và
danh tiếng lan rộng, ông được yêu cầu soạn hòa âm cho các
giàn nhạc và vũ ballet trên khắp thế giới. Vậy mà bài thơ
người bạn Cappeau trao cho ông lại là một thử thách khác xa
những đơn đặt hàng đến từ Luân đôn, Bá linh hay St.
Petersburg.
Nghiên
cứu bài thơ Cantique de Noel, Adolphe thấy toàn lời ca triển
dương tinh thần giáng sinh của Đấng Cứu Thế. Là người gốc Do
Thái, ông thấy những lời đó ca tụng một ngày lễ mà ông không
mừng, một con người mà ông không nhận là Con của Thượng đế.
Nhưng thúc đẩy nhiều hơn bởi tình bạn, ông mau mắn và ân cần
làm việc, cố gắng kết hợp những dòng nhạc với lời thơ đẹp
của Cappeau và sau cùng hoàn thành một tác phẩm hài lòng cả
nhà thi sĩ và vị linh mục. Ba tuần lễ sau đó tác phẩm được
trình bày trong thánh lễ nửa đêm giáng sinh. Cả thi sĩ lẫn
nhà soạn nhạc đều không thể ngờ những gì sẽ xẩy ra sau đêm
đó.
Khởi
đầu, ca khúc đã được đón tiếp nồng nhiệt tại các giáo đường
ở nước Pháp trong tất cả các nghi thức của ngày lễ Giáng
sinh. Nhưng khi Cappeau từ bỏ giáo hội để gia nhập phong
trào xã hội, và các nhà chức trách trong giáo hội khám phá
ra rằng Adolphe là người Do thái, thì nhạc bản này - lúc đó
đã lớn mạnh và trở thành bài ca giáng sinh đuợc ưa chuộng
nhất tại Pháp - đột nhiên bị giáo hội phủ nhận. Giới cầm
quyền giáo hội Pháp lúc đó tuyên bố rằng bản “Cantique de
Noel” không thích hợp trong các nghi lễ tại giáo đường vì
không có phong vị thánh nhạc và lời ca “hoàn toàn thiếu tinh
thần tôn giáo”. Tuy giáo hội cố chôn bản nhạc, nhưng giáo
dân Pháp vẫn cứ hát. Một thập niên sau, một nhà văn Mỹ đưa
ca khúc này ra trước một cử tọa mới cách nước Pháp nửa vòng
trái đất.
Sinh
ngày 13 tháng 5 năm 1813 tại Boston, John Sullivan Dwight
tốt nghiệp đại học Harvard và trường thần học. Ông trở thành
mục sư giáo phái Unitarian tại Northampton, tiểu bang
Massachusetts, nhưng không hiểu sao cứ mỗi lần thuyết giảng
trước đám đông là ông trở bệnh. Bất hạnh này làm ông cứ phải
giam mình trong nhà, không dám xuất hiện trước quần chúng và
do đó không thể làm nhiệm vụ mục sư được.
Là người
rất thông minh và có tài, Dwight tìm cách khác để thi thố
tài năng. Ông dùng khả năng viết lách để lập tờ báo chuyên
về âm nhạc Dwight’s Journal of Music. Suốt ba thập
niên lặng lẽ làm việc, ông phê bình đánh giá các nhạc bản
một cách cẩn trọng. Tuy ông không xuất hiện được trước đám
đông, nhưng một số các nhạc sĩ có tài và những người ưa
chuộng âm nhạc vùng đông bắc nước Mỹ đã thích thú những bài
viết có uy tín của ông. Trong lúc tìm kiếm các ca khúc mới
để thẩm định, ông đọc đuợc “Cantique de Noel” bằng tiếng
Pháp, và ông cảm thấy yêu mến ngay lời ca của bản nhạc này.
Ông
không chỉ thấy cần phải giới thiệu bản nhạc giáng sinh tuyệt
diệu này cho thính giả Mỹ mà còn cảm nhận trong thâm tâm
rằng bài ca này còn đi xa hơn là diễn tả câu chuyện giáng
sinh của Chúa nữa. Là một người có tinh thần giải phóng cao
độ, ông cảm động vì những lời hát: “Quả thực, Người dạy
ta yêu nhau. Luật của Người là tình thương, và Tin mừng của
Người là hoà bình. Xích xiềng sẽ bị bẻ gẫy vì nô lệ là anh
em ta, và nhờ danh Người sẽ thôi không còn áp bức.” Bản
văn thể hiện trung thực quan điểm của ông về chế độ nô lệ ở
miền Nam lúc đó. Nguời viết lời ca tin rằng Chúa đến để giải
thoát mọi người và trong bản nhạc này mọi người thấy rõ thực
tại đó.
Giữ ý
chính của nguyên tác, Dwight phiên dịch lời ca một cách tài
hoa ra Anh ngữ, đem in trong báo của ông và xuất bản trong
mấy cuốn sách âm nhạc thời đó. Bản nhạc mau chóng được quần
chúng Mỹ ưa chuộng, đặc biệt là ở miền Bắc trong thời kỳ Nội
chiến.
Trở lại
nước Pháp, mặc dầu “Cantique de Noel” bị cấm hát trong các
nhà thờ gần hai thập niên, nhiều người vẫn hát tại nhà. Có
một truyền thuyết kể rằng vào đêm trước lễ giáng sinh năm
1871, giữa trận chiến ác liệt giữa quân đội Đức và Pháp
trong chiến tranh Pháp-Phổ, một binh sĩ Pháp bỗng dưng nhảy
ra khỏi hầm trú ẩn lầy lội. Binh sĩ cả hai bên nhìn chằm
chằm vào anh chàng có vẻ điên khùng này. Tay không mang vũ
khí, anh đứng ngang nhiên ngước mặt nhìn trời cất cao giọng
hát những câu mở đầu của bản Cantique de Noel: “Minuit,
chrétiens, C’est l’heure solennelle Où l’Homme Dieu
descendit jusqu’à nous” (“Nửa đêm rồi, hỡi người giáo hữu.
Đây là giờ trọng thể Con Chúa xuống trần đến với chúng ta“).
Đến lúc đó thì một anh lính bộ binh người Đức trèo ra khỏi
nơi trú ẩn và hát đáp lại:”Vom Himmel hoch, da komm’ich
her. Ich bring’euch gute neue Mar, Der guten Mar bring’ich
so viel. Davon ich sing’n und sagen will.” Đó là phần mở
đầu ca khúc “Ta từ trời xuống thế” của Martin Luther. Chuyện
kể rằng sau đó trận chiến ngưng lại 24 giờ đồng hồ cho binh
sĩ hai bên cùng tạm thời hoà hoãn để mừng ngày lễ Giáng
sinh. Có lẽ câu chuyện này phần nào thúc đẩy giáo hội Pháp
chấp nhận bản Cantique de Noel xứng đáng được hát lên trong
các nghi lễ tôn giáo như trước.
Vào ngày
trước lễ Giáng sinh năm 1906, Adams người thi sĩ sáng tác
bài thơ thì đã chết từ lâu, còn nhạc sĩ Cappeau và dịch giả
Dwight thì đã già. Hôm đó, Reginald Fessenden, một giáo sư
đại học Pittsburgh 33 tuổi, trước kia là chuyên viên hoá học
phụ tá cho nhà bác học Mỹ Thomas Edison, đã thực hiện một
chuyện mà từ lâu vẫn tưởng không thể làm được. Sử dụng một
loại máy phát điện mới, Fessenden nói vào chiếc máy khuếch
đại và đó là lần đầu tiên trong lịch sử, tiếng nói của con
người được truyền đi trên làn sóng điện: “Và xảy ra trong
những ngày ấy, có lệnh của hoàng đế Xêda, là mọi người phải
được kiểm tra”. Ông cất cao giọng đọc thật rõ ràng, hy
vọng tiếng nói truyền đi tới một địa điểm xa ông đã ước định
trong thí nghiệm.
Các
chuyên viên vô tuyến trên các tàu biển và tại các toà báo
sững sờ vô cùng ngạc nhiên khi thấy các làn sóng xung động
thường ngày họ nhận được bằng mã số phát ra trên mấy chiếc
loa nhỏ xíu bỗng nhiên ngưng lại và tiếng của vị giáo sư
vang lên : ông đọc đoạn phúc âm nói trên trong sách thánh
Luca. Một số người lúc đó tưởng đang xảy ra phép lạ, lần đầu
tiên tiếng nói con người đuợc chuyển thành làn sóng điện và
truyền đi đến một nơi xa.
Một số
người khác tưởng chừng họ nghe được tiếng nói của thiên
thần.
Lúc đó
Fessenden có lẽ không biết được những cảm giác sững sờ ông
gây ra trên các tàu biển và văn phòng báo chí, ông không
biết sự kiện nhiều người chạy vội đến máy vô tuyến để lắng
nghe những âm thanh tưởng như phép lạ. Thế nên, sau khi đọc
xong đoạn phúc âm, Fessenden nâng chiếc violon của ông lên
và chơi bản “O Holy Night”, bản nhạc đẩu tiên được truyền đi
trên làn sóng vô tuyến. Bản nhạc chấm dứt và buổi truyền
thanh kết thúc. Thế là âm nhạc đã tìm được một phương tiện
mới để lan truyền khắp thế giới.
Từ buổi
được hát lên lần đầu trong thánh lễ giáng sinh nhỏ bé năm
1847, bản “O Holy Night “ đã được hát lên cả triệu lần trong
các thánh đường trên khắp thế giới. Từ buổi một nhóm người
ít ỏi được nghe phát thanh lần đầu trên làn sóng vô tuyến,
bản nhạc đã trở thành một trong những bài thánh ca được thu
thanh và trình diễn nhiều lần nhất trong kỹ nghệ âm nhạc.
Tổng số đĩa nhạc do nhiều ban nhạc trình bày đã lên đến hàng
chục triệu. Bản nhạc này, xuất phát do lời yêu cầu của một
linh mục không tên tuổi, viết ra bởi một thi sĩ sau này lìa
bỏ giáo hội, phổ nhạc bởi một người Do thái, và được mang
đến quần chúng Mỹ vừa như một công cụ để soi chiếu tội ác
của chế độ nô lệ vừa để tường thuật lễ giáng sinh của Chúa,
nó đã lớn mạnh để trở thành một trong những ca khúc tuyệt
vời của mùa giáng sinh.
|