|
LỊCH SỬ GIÁO HỘI TRUNG QUỐC
Lm Trần Công Nghị

Bắc
Kinh:
Các
học giả và các nhà xã hội học Công Giáo đôi khi nhắc lại
tình trạnh tôn gíáo đương thời tại Trung Quốc là sự phục hồi
tôn giáo và coi như đây là thời kỳ truyền giáo lần thứ 5.
Thời
kỳ truyền giáo thứ nhất tại Trung Quốc được tính từ thời kỳ
Đan sĩ Alopen người Assyria đã mang Kitô Giáo theo học
thuyết Nestoriô đến Trung Hoa qua thương lộ buôn lụa nối
liền Trung Hoa với Âu Châu hiện nay thuộc tỉnh Xi'an, Trung
Quốc, vào khoảng thế kỷ thứ 7. Thời kỳ này đã được đánh dấu
qua việc xây bức tượng đá Nestoriô, là một biển đá cao hơn 3
mét, trên đó có khắc ghi các tín điều về Kitô Giáo và những
buổi lễ, những sự phát triển Kitô Giáo tại Trung Quốc và sự
ủng hộ của các triều đại nhà vua trong triều đại nhà Tăng.
Những khắc ghi về tín lý, lịch sử và những nội dụng khen
ngợi mà hầu hết các học giả cho rằng vẫn cờn được chấp nhận
bởi các tín hữu thời nay. Tượng đá này hiện nay được lưu lại
tại bảo tàng viện ở tỉnh Thiểm Tây thuộc Thành phố Tây An.
Giáo Hội Nestôrio đã bị Công Đồng Ephesô chối bỏ vào năm 431
và được coi là lạc giáo Nestoriô.
Vào
cuối thế kỷ thứ 13, tu sĩ Dòng Phanxicô người Ý là Cha John
tại Montecorvino được coi là vị thừa sai Công Giáo đầu tiên
đặt chân tới Trung Quốc. Vào năm 1307, Đức Giáo Hoàng
Clement V bổ nhiệm Cha John là tổng giám mục vì sự thành
công của ngài đã khiến cho một số những người có địa vị tại
Trung Hoa theo đạo Công Giáo, rửa tội gần 6000 người và cho
xây dựng các thánh đường. Dòng Phanxicô đã hoạt động tại
Trung Quốc gần 100 năm; theo quyển Bách Khoa Tử Điển Công
Giáo cho biết rằng vào năm 1368 Trung Quốc có khoảng 30,000
tín hữu Công Giáo, mặc dầu phần lớn các tín hữu này không
thuộc sắc tộc chính của Trung Quốc là nhà Hán. Thời kỳ này
được coi là thời kỳ truyền giáo lần thứ 2.
Vào đầu thế kỷ thứ 16, các linh mục
Dòng Tên, Dòng Phanxicô, Dòng Augustinô, Dòng Đa Minh đã cố
gắng đặt chân lên được đất Trung Hoa nhưng đã không thể vào
được cảng Quảng Châu, họ chỉ được lưu lại trong thời gian
ngắn hạn. Vào cuối thể kỷ 16, Linh mục Dòng Tên người Ý
Michele Ruggieri và Matteo Ricci đã xin được thường trú tại
Trịnh Châu, thoạt đầu khoác bộ áo nhà sư, rồi đến mặc đồ
theo Khổng Giáo. Vì mang theo và biết sử dụng các dụng cụ
khoa học phương Tây, các Cha đã được sự che chở bảo vệ của
giới trí thức Khổng Giáo. Cha Ruggieri trở về lại Âu Châu để
xin thêm sự giúp đở, trong lúc Cha Ricci đã vào tới Bắc Kinh
xin thường trú vào năm 1601. Các Cha Dòng Tên đã giúp chỉnh
đốn lại những khiếm khuyết trong niên lịch của hoàng cung,
cho nên lại càng làm tăng thêm uy tín và sự tín nhiệm nơi
các Ngài.

Khoảng
năm 1635, các dòng tu khác đã bắt đầu tới Trung Quốc và
chẳng bao lâu sau lãnh thổ Trung Quốc được chia làm nhiều
vùng riêng biệt do các dòng tu khác nhau đảm trách. Đến năm
1700 Giáo Hội Công Giáo Trung Quốc có khoảng 200,000 tín
hữu, nhưng các lễ nghi cúng bái của Trung Quốc bắt đầu lan
rộng đã đe dọa đến sự phát triển của Giáo Hội. Sự chia rẽ
của các Dòng Tu, Dòng Phanxicô, Đa Minh, Augustinô và Hội
Thừa Sai Balê đã chống đối các Cha Dòng Tên khi chấp nhận lễ
cúng bái tổ tiên cũng như dùng tên tiếng Hoa để đặt cho
Thiên Chúa. Sắc Luật Giáo Hoàng ban hành vào năm 1715 và năm
1742 cấm các lễ nghi Trung Hoa và hậu quả là Hoàng Đế phản
ứng lại bằng cách cấm giảng dạy truyền đạo Kitô và ra lệnh
trục xuất các vị thừa sai mà họ không dụng tới. Thời kỳ
truyền giáo trong thế kỷ 16 và thế kỷ 17 được coi là thời kỳ
truyền giáo lần thứ ba.
Thời kỳ truyền giáo lần thứ 4 xảy ra
vào giữa thế kỷ 18, khi Hiệp Ước Tianjin đảm bảo đến tự do
tôn giáo cho tất cả mọi tín hữu Kitô Giáo, bao gồm những
vùng thuộc nội địa Trung Quốc. Nhiều Dòng thừa sai lại tiếp
tục trở lại Trung Quốc và Tòa Thánh Vatican bắt đầu thiết
lập các lãnh thổ giáo quyền dưới quyền tài phán của các
Dòng. Đây là thời kỳ hưng thịnh cho tới khi chủ nghĩa cộng
sản lên nắm chính quyền vào năm 1949 đi kèm theo những sự
cưỡng bách giáo hội, bao gồm việc trục xuất các Linh Mục
thừa sai ngoại quốc và giam tù cùng tra tấn các tu sĩ trong
suốt thời gian xảy ra Cách Mạng Văn Hóa 1966-1976.
Thời kỳ truyền giáo thứ năm được kể
như bắt đầu vào thập niên 1980, khi Trung Quốc cho phép các
tôn giáo hành đạo. Thế nhưng không giống như các quốc gia
khác như Việt Nam hay tại các quốc gia khác, việc truyền
giáo hệ tại nơi các vị thừa sai ngoại quốc, nhờ đó kỷ nguyên
này được đánh dấu do người Công Giáo Trung Hoa biết gìn giữ
và truyền bá đức tin mình.
Ghi chú:
Nestôriô là Đan sĩ và là linh mục Antiokia mà hoàng đế
Theodore II và tòa thượng phụ
Constantinopoli bổ nhiệm năm 428. Giáo huấn của ông đã gây ra tiếng tăm ở đó
và tạo nên sự can thiệp của thánh Cyrillo thành Alexandria,
rồi sau đó Đức Giáo Hoàng Celstinô là người đã lên án ông
vào năm 430. Công đồng Ephêsô (431) đã tuyên bố một trong
những bức thư giáo lý của ông là lạc giáo, và đã truất chức
ông. Sau đó, Nestoriô bị đày sang Petra (Arabia), rồi sang
Lybia và ông đã qua đời sau Công Đồng Calcêđônia. Nestoriô
quả quyết rằng Đức Kitô đã được cấu tạo bởi hai ngôi vị, một
ngôi vị thần linh là Logos (Lời) và một ngôi vị nhân linh là
Đức Giêsu. Nestoriô cho rằng không có sự kết hợp giữa bản
tính loài người và bản tính Thiên Chúa, nhưng chỉ có một sự
liên kết giữa một ngôi vị con người và thần tính. Chính vì
thế ông phủ nhận việc dành cho Đức Maria tước hiệu Mẹ Thiên
Chúa.
Xem tiếp :
Trung Quốc - một đất nước hai Giáo Hội Công Giáo |