VINCENT DE PAUL

 Cát Sa Mạc

 

 

Nhập đề

Giống như bao thời kỳ khác trong lịch sử, thế kỷ XV – XVI được ghi dấu bằng những vệt sáng và bóng mờ, nhưng không phải tất cả đều phủ một màu ảm đạm. Có khi nhiều khía cạnh tích cực bị mất quân bình vì tiêu cực, đôi lúc từ trong tiêu cực lại xuất hiện điểm thuận lợi về ý thức tập thể. Sự xuất hiện của cha Vincent với những tham vọng của tuổi trẻ đang thịnh hành trong xã hội. Cha đã đi đến một sự biến đổi nội tâm sâu xa là trở nên dấu chỉ tình thương của Thiên Chúa qua những hành động bác ái. Chính điều này đã làm cho cha trở thành một ‘vị thánh vĩ đại của thế kỷ’ trong việc cải cách Giáo Hội và xã hội. Với chiều kích bác ái trong việc theo gương Chúa Giêsu, Đấng tôn thờ Chúa Cha và rao giảng Tin Mừng cho người nghèo. Cha Vincent trở thành một mẫu gương cho các linh mục trong công tác mục vụ, trong việc tìm ý Chúa trong đời sống bằng việc ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa và chiêm ngắm Chúa Giêsu. Hầu trở thành một mục tử như lòng Chúa mong ước với tư cách là thầy dạy, thừa tác viên các bí tích và là người hướng dẫn cộng đoàn.

I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Vào cuối thế kỷ XV, các quốc gia theo nghĩa hiện đại xuất hiện và muốn độc lập khỏi các thế lực đã lỗi thời: quyền Giáo Hoàng và đế quốc Đức. Nhiều cơ chế của Giáo hội đã lỗi thời, không còn đáp ứng nguyện vọng của các kitô hữu. Đến đầu thế kỷ thứ XVI có nhiều người quyết tâm thực hiện một cuộc cải cách Giáo Hội, cuộc cải cách này làm tan nát Giáo Hội Tây Phương. Vào cuối thế kỷ XVI những nét mới của một địa giới tôn giáo chúng ta được thừa hưởng ngày hôm nay đã được hình thành.

1. Thế giới

a. Tại Châu Âu

Nhiều xứ sở Châu Âu đã có bộ mặt của một quốc gia theo nghĩa chúng ta hiểu ngày nay; một chủ quyền vững mạnh, nền kinh tế, quân đội. Kết thúc vào năm 1453, cuộc chiến tranh trăm năm xác định địa giới hai vương quốc Anh và Pháp. Cuộc hôn nhân của Nữ Hoàng Isabelle với Ferdinand cùng với việc chiếm đánh thành Grenade (1492) thành lũy cuối cùng của người Arabe kết thúc cuộc chiến và thống nhất vĩnh viễn nước Tây Ban Nha.

b. Tại Bắc Âu và Đông Âu

Ba Lan là một vương quốc rộng lớn, có biên giới mơ hồ, trải dài từ Lituanie đến Ukraina tạo thành một hành lang tiền phong của Kitô giáo đối diện với Chính Thống. Các vua Nga ngự trị tại Moscou được coi là Rôma thứ ba. Người Thổ Nhỉ Kỳ tiếp tục tiến quân về trung tâm của Đông Âu sau khi chiếm được Constantinople, khuất phục vùng Balkan và đe dọa thế giới Kitô giáo: Hung, Áo... Hy Lạp vẫn bảo tồn được quyền Giáo Hội Chính Thống dưới quyền Hoàng đế.

c. Trong Giáo hội

Cải cách đã trở thành đồng nghĩa với đổ vỡ trong Giáo hội. Người ta thường cho rằng lúc đó có biết bao lạm dụng trong Giáo hội đến nỗi có những người không hy vọng thấy Giáo hội thay đổi, họ đã rời bỏ Giáo hội. Gương mặt nổi bật nhất của việc cải cách là Luther và ngày 31.10.1517 được coi là ngày khai sinh phong trào cải cách. Đồng thời với Luther, nhiều nhà cải cách xuất hiện khắp nước Đức, Pháp, Thụy sĩ: Zwingle, Jean Calvin.

Nếu lòng nhiệt thành quan tâm đến tôn giáo đã làm xuất hiện những nhà cải cách tách rời Giáo Hội Rôma, cũng bắt nguồn cho nhiều cố gắng cải cách trong nội bộ Giáo hội Rôma. Công đồng Trente (13.12.1545) đã đi vào đời sống Giáo Hội nhờ một số người dốc toàn lực vào việc cải cách. Phải đàn áp các lạm dụng, dạy dỗ các tín hữu và huấn luyện giáo sĩ. Đồng thời, người ta cũng muốn chiến đấu chống lại cải cách Tin Lành.

2. Nước Pháp

Tại Pháp các vua khẳng định quyền hành trên toàn lãnh thổ Chính sách của các vua Pháp giao động luôn. Những thuận lợi của thỏa ước Bologne khiến các ông trung hành với Rôma. Sau “Affaire des placards” đàn áp ngày càng cứng rắn chống những kẻ lạc giáo. Phái Vaudois ở vùng Provence liên minh với Cải Cách bị tàn sát đến 3.000 người vào năm 1545. Các Giáo hội Cải Cách mọc lên trong nhiều thành phố Pháp. Công nghị Paris qui tụ được đại biểu của 50 giáo hội (1559). Họ soạn thảo bản ‘kỷ luật’ và tuyên xưng ‘đức tin’ của các Giáo hội Cải Cách Pháp. Công nghị Rochelle (1571) duyệt lại và long trọng xác nhận các bản văn ‘nền tảng’ này.

Dưới thế kỷ của quan niệm chuyên chế, các vua dù Công giáo hay Tin lành đều cho mình là chủ của mọi chủ thể chế, kể cả Giáo hội, ở trong nước mình. Tôn giáo phải phục vụ quyền lợi chính trị của họ. Họ không lùi bước trước những nghịch lý bất lực nhất. Nước Pháp thường liên minh với các ông hoàng Tin Lành, nếu không thì với Thổ Nhỉ Kỳ để chống lại Hoàng đế và vua Tây Ban Nha, những người ủng hộ Giáo hội. Nhưng trong nội bộ nước Pháp, những người Tin Lành càng bị ngược đãi. Hoàng đế vẫn không mất hy vọng tái lập hoàn toàn đạo Công Giáo trong các nước thuộc quyền mình. Việc Hoàng đế từ chối nhượng bộ những người Tin Lành vùng Bohême khởi xướng cuộc chiến tranh 30 năm.

Năm 1615, đương đầu với ác ý của nhà vua, các Giám Mục Pháp quyết định áp dụng những sắc lệnh công đồng Trente. Nhiều Giám Mục tiến hành một cuộc cải cách mục vụ chạm đến mọi lãnh vực của mọi đời sống kitô hữu. Trong số các vị nỗi bật nhất có Hồng y De la Rochefoucauld, Giám mục Senlis và Alain de Solminihac, Giám mục Cahors từ 1636 đến 1659. Những bậc thầy về linh đạo đã làm xuất hiện một mẫu người linh mục mới sẽ cải cách dân Kitô giáo đó là Francois de Sales, Giám mục Genève.

Giữa những đổ nát của chiến tranh bệnh tật, nước Pháp đang trải qua một thời kỳ đen tối và bế tắc, cha Vincent xuất hiện như một dấu chỉ tình thương của Thiên Chúa. Ngài là vị thánh ‘vĩ đại’ của thế kỷ. Từ miền Landes đến Paris định làm giàu trong Giáo Hội. Ngài dần ý thức nhu cầu của dân Kitô giáo. Với đầu óc thực dụng hơn ‘chúng ta hãy đến với Thiên Chúa một cách thẳng thắn hơn, thánh thiện và hãy lao động’.

I. TIỂU SỬ

Chúng ta có hai bức chân dung thánh Vincent : chân dung thấy từ bên ngoài, đó là khuôn mặt trầm tĩnh với một hàng râu thưa thớt điểm nhiều chấm trắng bạc, đôi mắt tuyệt vời chứa đầy sự dịu dàng, sáng chói và đồng thời như xuyên thấu tận tâm hồn. Chân dung từ bên trong qua bút tích và qua cuộc sống của ngài. Khiêm tốn nhưng không an phận, hiền lành nhưng không yếu đuối, đơn sơ nhưng không thích những sự phức tạp rắc rối vô ích nhưng không bao giờ nông cạn.

Vincent de Paul sinh ngày 24 tháng 4 năm 1581, tại Pouy, gần thành Pax, trong miền Landes. Là con thứ ba trong một gia đình gồm sáu anh chị em. Tuổi thơ của Vincent đã trải qua trên những cánh đồng rộng lớn trong việc chăm sóc bầy gia súc. Gia đình Vincent sống rất nghèo khổ và phải làm việc vất vả nhưng không nghèo về tinh thần.

1. Những tham vọng của tuổi trẻ

Cha mẹ Vincent, ông Jean Depaul và bà Bertrande de Moras nhận thấy Vincent có khả năng học hành để sau này trở thành linh mục. Vào thời điểm này, không phải vấn đề đức tin hay ơn gọi, nhưng là một nghề nghiệp và tương lai của gia đình. Nếu một người con trở thành linh mục là có thể bảo đảm một địa vị đàng hoàng cho những người thân trong gia đình.

Vào năm 15 tuổi, Vincent được gởi theo học tại một trường dòng Franciscan School ở làng bên cạnh. Hai năm sau Vincent bước vào đại học Toulouse để nghiên cứu thần học. Mục đích chính của Vincent là trở thành linh mục để cải thiện cuộc sống và giúp đỡ gia đình.

Con đường tiến chức của Vincent thật nhanh chóng. Ngày 13 tháng 9 năm 1600, Vincent được thụ phong linh mục với ước mơ về một sự bổ nhiệm đầy hứa hẹn và về hưu sớm. Vừa được thụ phong linh mục, cha Vincent tìm cách đạt cho được một giáo xứ, nhưng lại bị người khác tranh chấp. Vì vậy cha đã đi Rôma (1607 – 1608) với mục đích tìm kiếm sự thăng quan tiến chức.

2. Sự biến đổi nội tâm

Trở về quê hương, với sự nhiệt thành của một con người vùng Gascogne, cha Vincent tìm cho mình một địa vị, mà ở thế kỷ “chọn quyền cao chức trọng” phải mang lại cho một sự vẻ vang. Bằng tú tài thần học ở Toulouse cho phép cha mơ tưởng tới một dự định táo bạo là trở thành Giám mục.

Cha Vincent đến Paris vào mùa thu năm 1608 làm tuyên úy cho cựu hoàng hậu Marguerite de Valois, vợ thứ I của vua Henri IV. Cha nhận công tác bố thí tiền, bánh mì... cho hàng trăm người nghèo đến gõ cửa lâu đài của hoàng hậu Margot. Cha chỉ bố thí của cải nhưng không bố thí tình yêu, chỉ lấp đầy những bàn tay chứ không lấp đầy những tâm hồn. Đó chỉ đơn thuần bên ngoài chứ chưa phải là một cuộc hoán cải.

Trong thời gian này, cha Pierre de Bérulle là cố vấn của cha Vincent. Vào tháng 11 năm 1611, cha Bérulle qui tụ một nhóm các linh mục, gồm những vị danh tiếng, tất cả đều là những tiến sĩ ở đại học Sorbonne tình nguyện dấn thân sống trọn hảo chức vụ tư tế. Các ngài không màng đến thế giá và chức vụ, mà chỉ tìm kiếm sự thánh thiện. Điều này trái ngược với những gì mà cha Vincent đeo đuổi.

Cha Vincent không hề gia nhập vào nhóm linh mục mà cha Bérulle thành lập. Tuy nhiên, cha có những kinh nghiệm nội tâm khác nhau, có tính quyết định đã thanh luyện và thay đổi con người bên trong của ngài. Nhất là dưới sự hướng dẫn của cha Bérulle, những tham vọng vật chất bắt đầu có những mối quan tâm cao hơn.

Với sự khích lệ của cha Bérulle, vào năm 1612 cha Vincent đến giúp cho một xứ vùng nông thôn nghèo ở Clichy. Kinh nghiệm hướng dẫn cộng đoàn đầu tiên đem lại cho cha Vincent một niềm vui lớn, cha Vincent cảm nghiệm về ơn gọi trong một cách thức mới hơn. Nông dân nghèo trở thành những người bạn của cha và những cuộc chiến đấu của họ đã đánh động cha một cách sâu xa.

Hạnh phúc của đời sống mục vụ ở Clichy rất ngắn. Sau một năm, theo lời khuyên của cha Bérulle cha Vincent nhận lời làm tuyên úy cho một gia đình quý tộc. Ơn gọi thực sự của cha Vincent được hiện rõ hơn. Vào năm 1617, khi đang giảng tĩnh tâm tại một giáo xứ ở The Gondi Estatas. Sự đáp trả của những nông dân nghèo rất đông và nhiều linh mục được mời gọi đến phụ giúp giải tội.

Hơn nữa, sau khi giúp cho một người bạn (cũng là linh mục) thoát khỏi cơn khủng hoảng về niềm tin. Cha Vincent lại bước vào thời kỳ đen tối của mình. Cha cầu nguyện, khổ chế, nhưng cha vẫn sống trong đêm tối. Khi chiến đấu với cơn cám dỗ, cha Vincent cảm nhận được về thân phận của những người nghèo là không có được sự che chở nào về phía con người cũng như cái nghèo thiêng liêng, cái nghèo tận căn, đó chính thân phận của Đức Kitô, bị Thiên Chúa Cha bỏ rơi. Cha Vincent vững tin rằng : ơn gọi linh mục của mình là phục vụ người nghèo.

3. Những hành động bác ái

Vào Chúa nhật tháng 8 năm 1617, khi chuẩn bị dâng thánh lễ, cha Vincent được một người giáo dân cho biết về một gia đình đang lâm bệnh nặng mà không có gì để ăn. Lập tức, cha thay đổi đề tài bài giảng. Lời nói của cha có sức thuyết phục đến nỗi toàn thể giáo dân hưởng ứng. Cha Vincent nhìn đây như là một cơ hội để thiết lập hội chăm sóc những bệnh nhân nghèo khổ... Cha quy tụ một vài giáo dân trong làng và đề nghị họ thành lập nhóm giúp đỡ những bệnh nhân trong làng, tất cả đều hân hoan hưởng ứng. Cha Vincent viết một bản quy luật, từ đó các “hội bác ái” ra đời. Đó là những nhóm giáo dân cơ bản trong xứ đạo, báo trước một hình thức mới mẻ nhìn Giáo Hội như là một nơi thể hiện đức bác ái.

Cuối năm 1617, cha Vincent trở về Paris với gia đình Gondi. Họ nài nỉ cha nhận lại công tác cũ và tạo điều kiện thuận lợi để cha có thể thực hiện vai trò của một thừa tác vụ lưu động. Chính vì thế cha đã thành lập các hội bác ái mới, và bắt đầu thăm viếng các tù nhân khổ sai ở Paris. Cha quan tâm đến tù nhân khổ sai để họ được đối xử nhân đạo hơn, được giúp đỡ về mặt vật chất cũng như tinh thần. Tại Paris, cha muốn có một nhà tù mới cho họ và một bệnh viện ở Marseille.

Năm 1625, sau 7 năm phục vụ cha Vincent rời khỏi gia đình Gondi với một số tiền rất lớn, cha đã thiết lập tu hội truyền giáo gồm những linh mục tận hiến cuộc đời mình để phục vụ cho những người dân quê nghèo khổ cả về thể xác lẫn tinh thần. Đặt trung tâm của hội truyền giáo tại Saint Lazare, và chính cha cũng cư ngụ tại đó để huấn luyện các thừa sai, lo việc cứu trợ người nghèo. Từ đó tu hội phát triển tại vùng Lorraine, Tây nam, Vendée, Champagne, Savoie, Rôma, Marseille, Gênes, Tunis, Alger (Angiêri), Irlande (Aùi Nhỉ Lan), Ecosse (Tô Cách Lan), Plogne (Ba Lan), Madagascar (Mã Đảo). Từ từ trái tim cha Vincent mở rộng theo tiếng kêu cứu người nghèo.

Năm 1625, cha Vincent cùng với Louise de Marillac, một quả phụ giàu có thành lập tu hội ‘Nữ tử bác ái’. Tu hội này chuyên chăm sóc người nghèo, dạy dỗ và chăm sóc những đứa trẻ mồ côi , thiết lập bệnh viện...

4. Cải cách Giáo hội và xã hội

Trong thời đại cha Vincent, nước Pháp trải qua một cuộc khủng hoảng lớn về niềm tin. Nhiều người bỏ đạo, theo Tin lành, vì thiếu những linh mục đạo đức. Các cha xứ miền quê nỗi tiếng về sự yếu đuối của họ hơn là nhân đức, chẳng hạn những lần các ngài được khiêng từ quán rượu về nhà xứ.

Vào năm 1626, nhận thấy việc đào tạo linh mục rất quan trọng cha Vincent vâng lời Đức Giám mục để nhận trách nhiệm mới là huấn luyện chủng sinh. Cha nghĩ rằng tất cả phải bắt đầu lại từ đầu, thay vì cải cách hàng giáo sĩ kỳ cựu đã quá quen với một nếp sống ít phù hợp với lý tưởng chức linh mục thì tốt hơn nên quan tâm lo lắng đến những tuyển sinh mới. Cha đề nghị giữ lại một số những ứng sinh cho chức linh mục để huấn luyện họ trong một thời gian cho quen với việc cầu nguyện và những bổn phận khác trong chức vụ tư tế. Tuy chỉ là một ý tưởng đơn sơ nhưng rất thực tiễn và có hiệu quả, vì từ đó một chương trình huấn luyện được hình thành. Năm 1633 cha Vincent cộng tác vào việc cải cách đời sống đan tu. Một số đan viện đã bị lu mờ và mất uy tín. Nhiều tu sĩ cầu nguyện nhưng thiếu lòng tin, chỉ biết vâng phục lề luật cách miễn cưỡng.
 

NIÊN BIỂU CUỘC ĐỜI THÁNH VINCENT

 1581

 

24/4/1581 Vincent de Paul chào đời tại Pouy, miền Landes. Cha mẹ là những nông dân nghèo miền quê.

Nét nổi bật nơi Vincent là sự thông minh

 1596

 15

Theo học tại Franciscan school

Trở thành linh mục cải thiện cuộc sống và giúp đỡ gia đình

 1597

 16

Theo học tại Đại Học Toulouse

Nghiên cứu thần học

 1600

 19

Ngày 13/9/1600 thụ phong linh mục

Mơ ước về một sự bổ nhiệm và về hưu sớm

 1607-1608

 26-27

Đến Rôma

Tìm kiếm sự thăng quan tiến chức

 1608

 

Đến Paris

Làm tuyên úy cho cựu Hoàng Hậu Marguerite de Valois

 1611-1612

29-30

Được cha Bérulle làm cố vấn và làm mục vụ tại Clichy

Không gia nhập vào nhóm linh mục của cha Bérulle, nhưng có những kinh nghiệm nội tâm khác nhau

1617

35

Làm tuyên úy cho một gia đình quý tộc. Giảng tĩnh tâm tại một giáo xứ ở The Gondi Estatus

Trải qua một cơn khủng hoảng niềm tin. Đây là một giai đoạn biến đổi nội tâm sâu xa. Ý thức về ơn gọi của mình là phục vụ người nghèo. Thành lập ‘Hội Bác Ái’

1625

43

Thành lập ‘tu hội truyền giáo’ tại Saint Lazare và phát triển rộng rải

Phục vụ dân quê nghèo cả về thể xác và tinh thần

1626-1633

44-51

Cải cách Giáo Hội theo tinh thần công đồng Trente

Huấn luyện chủng sinh trở thành linh mục tốt và cải cách đời sống đan tu

1643

51

Vua Lui qua đời, linh hướng cho Hoàng Hậu Anne de Autriche. Tham gia vào hội đồng cố vấn lương tâm

Nổ lực không mệt mỏi cho việc cải cách xã hội và người nghèo

1660

79

Ngày 27/ 9/1660 Cha Vincent qua đời

 

1737

 

ĐGH Clément XII phong lên bậc hiển thánh

 


Khi vua Louis XIII qua đời, cha Vincent trở thành cha giải tội cho hoàng hậu Anne de Autriche và là thành viên của hội đồng cố vấn lương tâm. Một trong những vấn đề của hội đồng là bổ nhiệm các Giám mục, cha Vincent đã có những ý kiến đáng kể để tìm ra những Giám mục có tài có đức và có trách nhiệm cai quản giáo phận. Như thế, dù muốn dù không, cha Vincent cũng bị lôi cuốn vào những dao động chính trị, cha cũng không lấy đó làm niềm kiêu hãnh. Khi trở nên người có quyền hành, cha trở thành tiếng nói của những người không có tiếng nói. Một phần ba cuộc đời của cha trùng hợp với thời kỳ giặc giã của nước Pháp. Cha đã trở thành một sứ giả hòa bình và là niềm hy vọng cho những người nghèo. Những nỗ lực không mệt mỏi của cha nhân danh cho xã hội và cho người nghèo.

Cha Vincent đã sống đến tuổi già. Người ta có cảm tưởng là sự quyết tâm phục vụ đến cùng làm cho cha lâu già và luôn gắn bó với cuộc sống. Cho đến giờ phút cuối cùng cha vẫn muốn có mặt ở nhiệm sở. Ngày 27-9-1670 cha đã thanh thản ra đi trong bình an của Chúa. Con người mà người nghèo tôn kính như người cha của họ, đã ra đi như thế đó, người đã đi vào huyền thoại nhờ những công việc phục vụ người nghèo, Giáo hội và nước Pháp. Vào ngày 10-6-1737 Đức Giáo Hoàng Clément XII đã phong ngài lên bậc hiển thánh.

III. ĐẶC TÍNH NỔI BẬT CỦA ĐỜI SỐNG TÂM LINH

Chúng ta có thể tự hỏi nguồn gốc xã hội đã ảnh hưởng lên đời sống của cha Vincent về những khía cạnh nào ?

Trước hết, cha Vincent bao giờ cũng có cái nhìn ‘của người dân quê’ về thế giới và sự vật, ngay cả những thực tại thiêng liêng. Khác hẳn với các nhà cải cách Giáo hội Pháp lúc bấy giờ, những người xuất thân từ giai cấp quí tộc, cha Vincent luôn đề cao công việc chân tay. Nhãn quan tôn giáo của cha không bao giờ là nhãn quan của những người trong phòng khách mà Molière đã chỉ trích trong tác phẩm Tartufe. Cha Vincent biết được giá trị của những bàn tay chai cứng vì lao tác và lời cầu nguyện thầm lặng của giọt mồ hôi và của sự mệt nhọc.

Kế đến, Cha Vincent không muốn tập hợp quanh mình những nhà tri thức thông thái, cũng chẳng muốn linh hướng cho các nữ đan sĩ quí phái. Là người nghèo, để loan báo Tin Mừng cho người nghèo, cha chọn người nghèo. Đặc biệt là phụ nữ, ít có ai đề cao giá trị sự hiện diện của phụ nữ trong xã hội và trong Giáo hội ở vào một thời điểm mà người phụ nữ chỉ biết phục tùng hoặc bị gạt ra lề cuộc sống.

Sau cùng, tinh thần công đồng Trente về ‘vai trò của linh mục tốt’ đã thấm nhuần nơi cha. Điều đó đòi buộc cha những điều kiện bên ngoài và bên trong, tinh thần cầu nguyện, đời sống khổ hạnh, sự hiện diện thường xuyên ở giáo xứ và sự dấn thân để thi hành công tác mục vụ...

Từ những khía cạnh trên đây chúng ta dễ dàng nhận ra những đặc tính nổi bật của cha trong đời sống tâm linh. Đó là theo gương Chúa Giêsu, Đấng tôn thờ Chúa Cha và rao giảng Tin mừng cho người nghèo .

1. Theo gương Chúa Giêsu

Nhiều vị thánh, trong những khúc quanh của cuộc đời đã được nâng đỡ hay hướng dẫn do những biểu hiện siêu nhiên. Thánh Paul bị ngã ngựa và được nghe tiếng Chúa Giêsu. Đối với thánh Ignace de Loyola, trên bờ sông Cardoner một sự thần hứng giúp ngài cảm thấy và thấm nhập những mầu nhiệm đức tin. Với cha Vincent, kể từ năm 1617, cha xác tín là phải theo gương Chúa Giêsu, không phải chỉ sẵn sàng mà còn cam chịu bằng lòng, không phải tiếng nói từ trời, nhưng với những dấu hiệu tầm thường mà chúng ta vẫn gặp trong đời sống : những biến cố. Cha không bị phân tâm nhưng luôn chờ cơ hội, sẵn sàng đón nhận ý Chúa trên cuộc đời mình.

Chính vì thế cha đã làm với tất cả tình yêu của Chúa. Tình yêu này được chỉ thị và gợi ra không phải là tình yêu cảm xúc hay sự tự dung túng bản thân, mà là sự dâng hiến hoàn toàn. Ở đây nói lên ý muốn tích cực tỏ ra trong sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Việc sẵn lòng nghe và thực hành ý của Thiên Chúa làm nên tình thân hữu với Chúa Giêsu và với những người đồng chí hướng, mà nhờ đó cha đã lập nên hai tu hội ‘Truyền Giáo và Nữ Tử Bác Ái’.

Làm thế nào để nhận ra ý Thiên Chúa ? Cũng như Chúa Giêsu, cha trở nên khiêm nhường, sẵn sàng đón nhận thánh ý của Thiên Chúa trong cuộc đời của mình. Trong một thế kỷ mà người ta coi trọng danh dự, người ta có thể giết nhau chỉ vì một câu nói nhục mạ hay vì quyền tiên chỉ không được kính trọng, thì nhân đức khiêm nhường giúp cha giữ được nhân cách mạnh mẽ mà trọng tâm là Thiên Chúa. Cha luôn xác tín tất cả đều là công trình của Thiên Chúa: ‘Ai đã khiến chúng ta làm những công việc này... có phải là do tôi không ... chính là Thiên Chúa, chính sự quan phòng tự phụ của Ngài và hoàn toàn do lòng tốt của Ngài’. Cha nhận thấy rằng không cần đợi nghe tiếng nói từ trời để biết ý Chúa. Nhưng những điều cha trông thấy đã quá đủ cho cha. Đối với cha, những biến cố xảy ra trong cuộc sống không phải là một sự việc tình cờ, nhưng là một cuộc gặp gỡ Chúa quan phòng, qua đó Thiên Chúa muốn bày tỏ dự định của Ngài trên chính đời sống của cha. Từ đó cha đi đến một quyết định duy nhất và dứt khoát rằng ‘Thiên Chúa là tình yêu và muốn người ta hành xử bằng tình yêu

Hơn bao giờ hết, việc theo gương Chúa Giêsu không chỉ dừng lại với một vài nhân đức trên mà là ‘Đức Kitô sống trong tôi’. Sự khổ chế và say mê Tin Mừng cũng được cha nhân mạnh. Khổ chế không nghĩa là trói buộc con người, cũng không phải làm cho họ ‘chìm lỉm’ trước mặt người đời, nhưng ngược lại, khổ chế làm biến mất các chướng ngại ngăn cẳn sự triển nở tự do đích thực. Sự tự do đích thực này của những con người không biết cưỡng lại sức mạnh của Tin Mừng và luôn sẵn sàng chết vì tình yêu. Chính vì thế, ‘Đức Giêsu Kitô là sự hiệp thông thường xuyên cho những ai hiệp nhất với điều người muốn cũng như điều Người không muốn’. Và chính trong cầu nguyện giúp cha hiệp nhất với Đức Giêsu Kitô hơn trong việc sống và rao truyền lời của Ngài.

2. Rao giảng Tin Mừng cho người nghèo

Tình yêu Phúc Âm phải được thấm nhuần cách cụ thể vào đời sống và công việc, chỉ không thuần có lý thuyết trống rỗng. Một lần cha Vincent được mời đến với dân quê đang hấp hối và đã để lại trong Cha một sự khốn khổ thiêng liêng, thật khó tưởng tượng được. Các giáo dân không còn muốn xưng tội nữa mà chỉ muốn giữ lấy nỗi khốn khổ của riêng mình chỉ vì sự hỗ thẹn. Đây không phải là một trường hợp riêng mà là tình trạng chung cho nước Pháp lúc bấy giờ: những người nghèo không được giúp đỡ cũng như không được nghe rao giảng Tin Mừng.

Cha hiểu rằng không phải vấn đề thiếu linh mục. Trái lại số linh mục có thừa. Nhưng các linh mục lo cho bản thân và những công việc riêng tư của mình. Gia nhập hàng giáo sĩ không có nghĩa là chấp nhận những mệt nhọc hay phiền toái, nhưng là được thuộc về ‘giai cấp thứ nhất trong vương quốc’. Cha Vincent cũng làm như vậy, chỉ sau này cha mới dần dần ý thức rằng mình được mời gọi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo. Trước khi giảng, cha đã nhìn lại con người của mình, xét về quá khứ của mình và cha nhận thấy mình cũng xuất phát từ những người nghèo. Cha tự nhận thấy mình là tiếng nói của họ và làm sao diễn đạt được tư tưởng của họ. Những con người đau khổ vì những ông chủ gay gắt và phải chịu đựng những cơn giá rét mùa đông miền Picaride. Cha quyết định đứng về phía những con người khốn khổ ấy, luôn đồng hành với họ và cùng với họ nhập cuộc.

Với cha, được tận hiến cho Thiên Chúa để phục vụ người nghèo, những con người đang xa rời vòng tay Thiên Chúa vì không được dạy dỗ, thiếu quan tâm và mặc cảm. Như Thiên Chúa cứu độ con người nhờ con người, cha cũng nghĩ vậy: ‘Điều cần thiết là nhờ người nghèo cứu người nghèo’. Cũng như Thiên Chúa cứu độ con người bằng tình yêu, cha ghi nhớ rằng Đức ái phải được đặt ở vị trí ưu tiên hành đầu: ‘Thiên Chúa là tình yêu và muốn người ta hành xử bằng tình yêu’. Đối với cha một cuộc thăm viếng là một tình yêu, một tình yêu được mời gọi biểu lộ lòng nhân lành của Thiên Chúa đối với bệnh nhân nghèo...

Cha đã làm việc và bỏ mình để tiếp nối công trình của Chúa Giêsu. Cha Vincent nói: “Chúng ta được Chúa chọn như những dụng cụ của đức ái bao la và tình tự phụ, chỉ biết ngự trị và triển nở nơi các tâm hồn... ơn gọi của chúng ta là phải ra đi, không chỉ đến một giáo xứ, một địa phận và khắp nơi, để làm gì? Để nung đốt con tim nhân loại, để làm những gì con Thiên Chúa đã làm, vì Ngài đã đem lửa đến trần gian hầu đốt lên ngọn lửa tình yêu. Chúng ta còn muốn gì hơn là làm cho ngọn lửa đó bừng lên và thiêu hủy tất cả”.

Lòng trắc ẩn nơi cha không chỉ là thương hại, thậm chí cũng không phải là chịu đau khổ với người ta, nhưng đúng hơn trắc ẩn là cảm nếm nỗi đau khổ nơi người ta. Cha không chỉ biết thu mình trên khuôn mặt của con Thiên Chúa nhưng là đi tìm khuôn mặt của những con người đói khổ, để rồi yêu thương họ với một tình yêu nồng nhiệt và nóng bỏng. Với một hiện tượng rất phổ biến là sự cứng cõi trong tương quan giữa con người với con người. Cha không thể vô cảm, vô can hay lãnh đạm đối với bao nỗi buồn và bao nỗ lực đấu tranh của những con người mà mình có bổn phận phục vụ. Trái lại niềm vui, nỗi buồn của họ có một âm vang trong cõi lòng của cha và trong từng hành động của cha.

IV. MẪU GƯƠNG CHO ĐỜI SỐNG LINH MỤC

1. Tìm ý Chúa trong cuộc sống

Sống trong thiên niên kỷ thứ ba, một thiên niên kỷ mà khoa học kỹ thuật đã đạt đến những thành quả rực rỡ và những hứa hẹn đầy thuyết phục. Thiên Chúa chỉ còn là lý thuyết mơ hồ và gần như lỗi thời. Đứng trước những thách thức đó, chúng ta không khỏi hoang mang lo lắng và đôi khi không còn tin tưởng vào con đường mình đi. Cha Vincent sẽ là một trong những kim chỉ nam cho những định hướng tương lai của chúng ta trong thiên chức Linh mục.

a. Ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa

Trước tiên, ta phải đặt mình trước mặt Thiên Chúa và luôn nhìn nhận sự hiện diện của Ngài trong cuộc sống của chúng ta. Sự hiện diện của Ngài trong chúng ta là một sự quãng đại vô biên, làm cho ta hiện hữu trong tình yêu của Ngài. Vậy để đến được với Thiên Chúa: ‘ chúng ta phải bước đi bằng những bước tình mến’ (Thánh Giêrômiô). Ngài là nguồn mạch tình yêu vô tận và bổ ích cho cuộc hành trình từng ngày, từng giờ, từng phút trong cuộc sống của chúng ta. Chúa đang ở tôi, Chúa đang nhìn tôi, Chúa đang hành động trong tôi...

Sự hiện diện của Ngài là sự hiện diện của người bạn chân thành, người thầy kinh nghiệm; và hơn thế nữa là người cha tận tụy, yêu thương, nhẫn nại luôn dìu dắt chúng ta trong cuộc sống. Đặt mình trong sự hiện diện của Thiên Chúa để: ‘lắng nghe tiếng Ngài tận thẳm sâu của lòng mình, khi nó được ra trong cõi thinh lặng và vô biên, để Thánh Linh dễ dàng hoạt động và dòng tư tưởng dễ đi theo tư tưởng của Ngài’ (Eileen Eaddy).

b. Chiêm ngắm Chúa Giêsu

Đến với con người để trở nên giống con người hầu cứu chuộc con người. Chúa Giêsu đã chấp nhận sống như con người, không biết đến ngày mai, không chạy trốn khó khăn đau khổ. Người không đòi hỏi một hoàn cảnh thích hợp rồi mới nhập thể. Ở đây, linh mục phải biết ngắm nhìn Người là một con người với một thân xác hạn chế như ta. Sống trong một xã hội bất toàn và những tha nhân đầy khuyết điểm. Một cuộc đời ba muơi năm mà Người chỉ làm chủ từng giây từng phút mà Ngài đang sống. Người thật sự là một con người bị chi phối bởi không gian và thời gian.

Ngoài ra, linh mục còn gặp thấy một Giêsu luôn tìm thánh ý Thiên Chúa . Nguời đã thường dùng những giờ yên tĩnh, những nơi vắng lặng để gặp gỡ Thiên Chúa: ‘Sáng sớm tinh sương, Ngài chỗi dậy đi đến một nơi hoang vắng và Ngài cầu nguyện’. Cho dù phải lao nhọc vất vả với sứ vụ ‘Ngài đi ra núi cầu nguyện và cầu nguyện suốt đêm cùng Thiên Chúa’ (Lc 6, 12). Và ngay trong vườn cây dầu, trong đau đớn tột cùng ngài vẫn tìm gặp Thiên Chúa, không phải cho ý Ngài mà cho ý Cha, để rồi hoàn tất trên Thập tự.

Chúa Giêsu chính là con người từ bỏ cái tôi của mình, Người không còn nó nữa. Người không còn khả năng dính bén vào mình... bởi vì Người hoàn toàn bị thu hút, bị tan biến trong Thiên tính và bị ném vào Thiên Chúa. Chiêm ngắm Chúa Giêsu để linh mục thấy rằng: Người đã tạo cho mình một giá trị tuyệt vời, là sống hiện tại đời mình một cách trọn vẹn nhờ biết quy hướng điều mình sống về Thiên Chúa, biết tự đặt mình trong chương trình của Thiên Chúa.

2. Những mục tử giàu tình thương

Ngày nay sự phát triển khoa học kỹ thuật và kinh tế thị trường càng làm cho con người dễ bị luôn cuốn, kích thích ham muốn nhiều hơn. Càng hoạt động và chạy theo thời đại, nhiều tín hữu sống trong một thế giới dửng dưng với tôn giáo xa cách Lời Chúa và các bí tích vốn là điều thiết yếu cho đời sống của họ. Họ trở nên nghèo đói về mặt tinh thần. Linh mục phải là những mục tử giàu tình thương với những người khát đời sống tâm linh này.

a. Thầy dạy Lời Chúa

Sống trong một xã hội xuống dốc, đạo đức vắng bóng và khủng hoảng niềm tin, dĩ nhiên đồng tiền được phong thần lên ngôi. Nguyễn Việt Hà viết thẳng thừng, không rào đón: ‘Muốn biết rõ về ai nên nhúng người ấy nhiều lần vào tiền. Cái thứ dung dịch siêu thặng này làm trôi đi tất cả những màu mè bọc bên ngoài. Đạo mạo trở nên hao háo lỗ mãng. Dịu dàng trở nên chua ngoa cướp giật.’ (Cơ hội của Chúa, nxb văn học, 1999, tr 436). Với não trạng coi tiền bạc là cứu cánh, nên người ta tìm hết mọi phương cách để làm ra tiền. Lời Chúa trở nên xa lạ và không còn làm phương hướng cho mọi hành vi của cuộc sống con người.

Vì thế việc rao giảng Lời Chúa trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Linh mục không chỉ giới hạn việc rao giảng về Thiên Chúa, Đấng ngự trong ánh sáng và vô phương đạt thấu nhưng là Lời của Ngài đã và đang hiện tại hoá trong Chúa Giêsu qua Hội Thánh của Người. Như thế, đòi linh mục phải tận hiến chính mình để phục vụ Thiên Chúa. Linh mục không đặt cản trở nào cho Lời Chúa: ‘Bằng cách theo đuổi những mục tiêu bên ngoài sứ vụ của mình, hoặc cậy dựa vào sự khôn ngoan loài người, hoặc nhấn mạnh kinh nghiệm chủ quan của mình mà làm cho Lời Chúa ra tăm tối.’ (Thánh bộ truyền giáo, Linh mục và thiên niên kỷ thứ 3, tr 21).

Nhìn từ góc độ này, trước hết linh mục phải là người tin vào Lời Chúa, và có một đời gắn bó mật thiết với Lời Chúa. Bởi vì những chứng từ sống động của niềm tin ‘người đời ngày này sẵn sàng nghe hơn là thầy dạy và nếu người đời có nghe thầy dạy, là vì các thầy dạy là những chứng nhân’. Chính một khi Lời Chúa đã trở thành nguồn sống trong mình, linh mục mới dễ dàng trao ban cho người khác.

Thứ đến, suối nguồn chính của bài giảng dĩ nhiên là Thánh Kinh, được suy niệm cách sâu xa trong cầu nguyện cá nhân cũng như được hòa nhập qua việc nghiên cứu và tiếp cận tương xứng với sách vở thích hợp. Đặc biệt sống trong thời đại thông tin, linh mục cần phải biết cập nhật vấn đề có lựa chọn để làm cho Lời Chúa trở nên thiết thực với cuộc sống.

b. Thừa tác viên bí tích

Sống trong xã hội văn minh và tiêu thụ con người không còn nhận ra mình là hình ảnh của Thiên Chúa nữa. Do đó con người đánh mất cảm thức sống động của đức tin, kể cả không còn coi mình là thành viên của Hội Thánh và sống cuộc sống xa cách Chúa Kitô và Tin Mừng của Người. Linh mục sẽ làm có sứ mệnh của Chúa Kitô giữa họ bằng việc ban phát các bí tích.

Tuy nhiên, đối với sứ mệnh quan trọng này, linh mục phải hành động nhân danh Đức Kitô là đầu, nuôi dưỡng đoàn chiên là dân Thiên Chúa và dẫn họ đến sự thánh thiện của Ngài. Điều này đòi hỏi linh mục phải là chứng nhân đáng tin về niềm tin của mình trong mọi khía cạnh của đời sống linh mục cũng như trong việc tôn kính và cử hành các bí tích. Chắc chắn đó là một công trình mà trước hết Đức Kitô đã thực hiện: ‘Ơn cứu độ được tác thành qua các bí tích không phải xuất phát từ chúng ta, nhưng tuôn xuống từ nơi Thiên Chúa, và điều đó chứng tỏ vị thế ưu việt của hoạt động do Chúa Kitô, vị Linh Mục duy nhất và là Đấng trung gian duy nhất nơi thân thể của Người là Giáo hội ’ (Pastores dabo vobis, số 12). Đức Kitô dùng thừa tác vụ linh mục để thực hiện sự thánh hóa các tính hữu trong nhiệm cứu độ hiện nay.

Quả thực, hằng ngày linh mục được nhắc nhớ về sự thật rất quan trọng này khi nhân danh Đức Kitô linh mục cử hành thánh lễ tạ ơn là chính trung tâm của cuộc sống và sứ vụ của mình. Người linh mục được mời gọi trở thành chính điều mà mình cử hành: ‘Con hãy nhận lễ phẩm của dân thánh. Hãy hiểu biết điều con làm... Hãy làm cho cuộc sống con nên tương hợp với mầu nhiệm Thập Giá của Chúa’ (Nghi thức trao ban tác vụ linh mục, Tr. 163). Linh mục cần phải ý thức sự đồng hóa của mình với Đức Kitô để tiếp tục trao ban của ăn cho tín hữu. Chính trong bí tích Thánh Thể người linh mục trở thành dấu chỉ sự hiệp thông của dân Chúa.

Tin Mừng cho chúng ta thấy hình ảnh một thầy Giêsu không ngừng tìm kiếm và cứu vớt những gì đã hư mất. Chính Người đã đến để giao hòa con người với Thiên Chúa ‘Trong Đức Giêsu Thiên Chúa giao hòa thế gian với chính Ngài’ (2Cr 5, 19). Linh mục là dấu chỉ cho sự hòa giải qua bí tích giải tội. Không phải là những người ân cần sẵn sàng trao ban mà còn là người đều đặn lãnh nhận bí tích này. như thế họ sẽ trở thành những chứng nhân của lòng thương xót mà Thiên Chúa dành cho tội nhân. Hơn nữa cần phải có một hối nhân mẫu mực thì mới có thể là một cha giải tội mẫu mực. Họ là nhịp cầu bắc qua những cẳn trở của hối nhân, trở thành sứ giả của hòa bình và hòa điệu trong một xã hội mà có những lúc bị sâu xé tan nát bởi nhiêu ý thức hệ.

c. Người hướng dẫn cộng đoàn

Ơn gọi của linh mục là đâm rễ sâu trong lòng thương yêu của Chúa Giêsu. Chính điều này làm cho linh mục trở thành dấu chỉ sự hiện của Thiên Chúa giữa nhân loại. Đây cũng chính là sứ mệnh mà Chúa Giêsu gởi đến cho mỗi linh mục. Sứ mệnh này không phải là một hoạt động giữa bao nhiêu hoạt động, mục vụ không phải là một nghề. Người ta không sống cho một nghề nghiệp, một hoạt động nhưng là sống cho một tình yêu. Chính trong tình yêu của Đức Kitô và trong tình yêu của Thiên Chúa mà sứ mệnh của linh mục được bắt nguồn và được hoàn thành. Giờ đây tình yêu này cũng phải được linh mục tỏa đến mỗi người bằng trái tim mục tử.

Có lẽ đức tính đầu tiên mà người ta chờ đợi ở một linh mục là lòng nhân ái. Lòng nhân ái làm cho linh mục gần gũi mọi con người đau khổ..., chính điểm này đã làm nỗi bật gương mặt của thánh Vincent, Cha tìm mọi cách để gần người nghèo, lắng nghe họ và bù đắp cho họ. Với lòng nhân ái này linh mục sẽ trở nên giống Chúa Kitô hơn và làm cho họ đi vào mối quan hệ với từng người: những người đau khổ, những người nghèo và những người bị áp bức, những người tội lỗi và những người thánh thiện...

Vì thế các linh mục phải coi mình như dấu chỉ sống động và mang lòng nhân ái mà họ trao ban không phải của chính họ nhưng là ân huệ nhưng không của Thiên Chúa. Ước muốn phục vụ là yếu tố thiết yếu trong ơn gọi linh mục và đòi hỏi phải có thái độ tinh thần xứng hợp.

Đặt cái nhìn khoan dung đầy lòng tốt trên từng tín hữu và giúp họ phát hiện ra những gì tốt nhất mà họ đang chứa đựng trong mình. Sẵn sàng lắng nghe, nếu không nói là dám bỏ thì giờ, để giúp tín hữu đến với Chúa.

Chịu trách nhiệm về vận hành hữu cơ của cộng đoàn. Làm sao cho các dịch vụ khác nhau vốn rất cần thiết cho thiện ích của mọi người được tiến triển hài hòa. Tìm được sự cộng tác trong các lãnh vực phục vụ, giáo huấn, nâng đỡ các gia đình về mặt thiêng liêng.

Cần phải thi hành quyền bính những lãnh vực bắt buộc phải thi hành, bởi vì linh mục được đặt với quyền bính để phục vụ. Như thế quyền bính được thi đúng đắn là để ‘phục vụ chứ không phải thống trị’. Vì thế phải vượt qua cơn cám dỗ trốn tránh trách nhiệm và tránh mọi hình thức độc đoán cũng như quản trị dân chủ xa lạ với căn tính linh mục.

Kết luận

Chúng ta đang sống trong một giai đoạn đặc biệt của lịch sử nhân loại. Thế giới cũ đang tàn tạ dần , nhưng thế giới mới mà mọi người háo hức mong đợi vẫn chưa xuất hiện. Tình trạng mập mờ, tranh sáng tranh tối này gây bất an, lo sợ và kinh hoàng cho nhiều người. Để cùng với thánh Vincent trở nên giống Chúa Giêsu trong thời đại lịch sử này, chúng ta phải có lòng nhân ái và có lòng trắc ẩn như Người. Chúng ta phải biết cảm xúc với con người, vì con người và nhất là những đau khổ trong thân xác và trong tâm hồn. Để nên giống Chúa Giêsu, chúng ta phải cảm nhận: “Những vui mừng và hy vọng, những ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là những người nghèo khổ” (Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 1).