|
TÊRÊXA HÀI ĐỒNG GIÊSU CON ĐƯỜNG BÉ NHỎ
Cát
Sa Mạc

Têrêsa Hài Đồng Giêsu sinh năm 1873, qua đời năm 1897, quả là một vị thánh rất
trẻ, chỉ sống được 24 tuổi đời. Một vị thánh rất hợp thời. Một vị thánh rất gần
với chúng ta. Cũng là một trong những khuôn mặt lớn của Giáo Hội công giáo, đã
được Đức Piô XI tôn phong làm Bổn Mạng các xứ truyền giáo, ngang hàng với thánh
Phanxicô Xaviê của mấy thế kỷ trước. Còn được phong tiến sĩ Hội Thánh 1997.
Trong đêm thứ sáu Tuần Thánh năm 1896, chị bị ho ra máu lần đầu tiên. Mười tám
tháng cuối cùng là một cuộc tử đạo triền miên. Chị qua đời ngày 30.9.1897, hưởng
dương 24 tuổi, với tiếng thì thào : “Lạy Chúa, con yêu Chúa !”
Chúng ta biết được con đường nội tâm của thánh nữ nhờ vào quyển “Lịch sử một tâm
hồn” và “Các lời nói” do bà chị ruột cũng là bề trên sưu tập. Têrêxa đi vào cái
trọn vẹn, cái vĩ đại : chị muốn yêu mến Chúa Giêsu hơn bất cứ ai trên thế giới ;
chị muốn dâng mình cho tình yêu nhân từ của Chúa như của lễ toàn thiêu ; chị
muốn yêu tất cả mọi người, như Chúa Giêsu đã yêu. Chống lại kiêu ngạo, chị luôn
nhận thức mình hoàn toàn bất lực và nếu có làm được gì, đó là do sức mạnh tình
yêu của Chúa ban cho.
Đức ái đã cho Têrêsa chìa khóa, để tìm ra ơn gọi và chỗ đứng của chị trong Hội
thánh.
Thánh nữ Têrêsa và tính cách hiện đại
Khi ngài mới chỉ 15 tuổi, ngài tách khỏi những trào lưu tư tưởng của thế giới
trần tục đương thời mà những tư tưởng ấy đã chi phối các hoàn cảnh văn hóa,
chính trị, xã hội của thời ngài. Nhưng đời sống cách ly của ngài không nhất
thiết được phải cường điệu hoá. Trong khi sự thật có thể là những điều thoáng
qua ấy thu hút những con người của thời đại của ngài thì câu chuyện về tháng
cuối đời của ngài đã làm nổi bật một điều là yếu tính của thời hiện đại lẽ ra
phải làm nhưng đã không làm – nó thuyết phục rằng nó có thể giải quyết tất cả
mọi vấn đề và nhuần thấm tất cả các mầu nhiệm mà không cần sự giúp đỡ của Thiên
Chúa. ngài không thể thoát sự ảnh hưởng bởi những khẳng định của khoa học thế kỷ
19 mà nó giữ lấy chìa khóa duy nhất để đến cánh cửa chân lý. (Ngài có thể biết
nhiều về những con người tin mà chống lại những tranh luận khoa học đang nổi lên
dữ dội trong thời đại ngài mà chú của ngài là Isidore Guérin đã từng là chủ bút
của tạp chí Công giáo Bảo thủ). Có một sự khó khăn nào mà khoa học không thể
giải quyết hay phép lạ nào mà nó không thể đơn giản hoá thành những sự kiện
không? Một tháng trước khi Têrêsa qua đời, Têrêsa đã nói với chị của ngài
Pauline (Mẹ Bề trên Agnes Jesus) rằng:
Đó là thứ lý lẽ của những người theo chủ nghĩa duy vật xấu xa đã áp đặt lên tâm trí
con: Sau đó, nó không ngừng làm phát sinh những tiến bộ mới đó là khoa học sẽ
giải thích mọi điều theo lẽ tự nhiên; chúng ta vẫn có lý vì mọi sự vẫn tồn tại
và bỏ ngõ một vấn nạn.
Têrêsa, người có lòng tin đạt mức trưởng thành trong một hoàn cảnh mà luôn bị
cám dỗ bởi những thách thức của thời đại. Thì ngài chẳng có một lý lẽ chống đối
nào trước những vấn nạn này. Ngài chưa một lần hối tiếc rằng nếu nó không thể
chứng minh lòng tin là chân lý, thì ít nhất nó có thể cho thấy rằng những cuộc
tranh luận đặt ra cho vấn đề này chưa thỏa đáng. Có lẽ, chú của ngài có thể giúp
cho ngài nhưng ngài không bao giờ cảm thấy thoả mãn với những sự giúp đỡ ông.
Trong bất cứ trường hợp nào, ông chú mà Têrêsa mô tả là người của thời trước có
thể gặp nhiều rắc rối để tìm ra những tư tưởng trong tâm trí của một nữ tu Cát
Minh trẻ này. Vì chẳng có sách nào để tham khảo, chẳng người hiểu biết rộng để
để trả lời, và cũng chẳng có phương tiện nào để thanh luyện lòng tin của ngài
trước những thách đố của những nguyên tắc trần tục kiểu mới này. Têrêsa chẳng có
một lý do vững chắc nào để tin hay một lý do tuyệt hảo nào để mà tránh những ảnh
hưởng ấy. Từ việc tách biệt thời đại của ngài, trong tháng cuối đời ngài đã chia
sẻ với những người đương thời của ngài về sự tối tăm mà nguyên tắc trần tục của
thế kỷ 19 mà đã chôn vùi lòng tin của nhiều người.
Sự hiểu biết của Thánh Têrêsa
Thánh nữ đã suy xét một cách sâu xa những hiểu biết Thần Khí đã ban tặng cho
mình. Thánh nữ thẳng thắn phát biểu rằng nếu những ai đã dành trọn đời mình cho
việc nghiên cứu thần học, đã phỏng vấn thánh nữ khi thánh nữ được mười bốn tuổi,
thì họ hẳn sẽ kinh ngạc trước sự hiểu biết của thánh nữ về những bí mật của sự
hoàn thiện. Thánh nữ đã miêu tả giai đoạn thánh nữ 20 đến 23 tuổi như là thời kỳ
mà nhiều mầu nhiệm huyền bí về lòng tin đã trở nên sáng tỏ nơi thánh nữ.
Khi ám chỉ đến sự sự hiểu biết mà Chúa Thánh Thần đã ban cho mình, Thánh Têrêsa
gợi ý rằng nếu ai đó hỏi thánh nữ về những gì thánh nữ biết, thánh nữ có thể
giải thích điều đó cho họ. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng thánh nữ đang mô tả một
tình huống hoàn toàn có tính giả thuyết để làm nổi bật tính chất ngoại thường về
sự hiểu biết của thánh nữ. Thánh nữ tỏ ra thực tế hơn khi nói vơi Mẹ Bề Trên,
trong Bản Chép Tay C, rằng Chúa Giêsu đã ban cho thánh nữ ân huệ để thấu hiểu
những mầu nhiệm của tình yêu nhưng thánh nữ không thể nào diễn tả ra những gì
thánh nữ hiểu biết. Thánh nữ nói: nếu thánh nữ có thể diễn tả mầu nhiệm ấy, thì
mầu nhiệm ấy sẽ lộ ra như một giai điệu ở thiên đàng. Trên thực tế, tất cả những
gì thánh nữ có thể diễn tả là bập bẹ như một đứa trẻ.
Thánh Têrêsa không thể giải thích những gì thánh nữ biết bởi vì thánh nữ đã
không hiểu những mầu nhiệm của Thiên Chúa ngang qua một tiến trình lý trí nào
đó. Những gì thánh nữ biết, thánh nữ biết tất cả ở mức độ khác. Thánh nữ không
có được tri thức bằng sự nghiên cứu và học hỏi, nhưng đã đón nó như một quà
tặng. Đó là sản phẩm của sự đồng đồng hình đồng dạng với Thiên Chúa. Thánh nữ
biết Thiên Chúa một cách trực giác do đồng cảm mà Thần Khí tác động trong thánh
nữ. Đó là trường hợp của sự biết theo kiểu “cha nào con nấy”, mặc dù có nhiều
khác biệt giữa Thiên Chúa và Thánh Têrêsa, và vị Thiên Chúa mà thánh nữ biết
bằng tình yêu làm cho sự hiểu biết của thánh nữ trở nên đáng kính sợ và không
thể diễn tả được!
Thánh nữ biết Thiên Chúa như tất những nhà chiêm niệm biết Thiên Chúa – bằng ái
lực, bằng một sự-hiện-hữu-đồng-thời-với. thánh Têrêsa biết Thiên Chúa một cách
liên vị, như con người chúng ta biết nhau trong những tương tác bình thường hằng
ngày. Cách hiểu biết này là một vấn đề của trực giác, của đồng cảm hay là của
thấu hiểu bên trong hơn là vấn đề của lý trí.
Biết Thiên Chúa theo lối thân tình, trực giác mà trong đó, chúng ta biết nhau là
hệ quả bình thường việc Thần Khí lưu ngụ bên trong chúng ta. Sau cùng, Thiên
Chúa không phải là một sự trừu tượng xa cách mà ta chỉ có thể liên hệ đến bằng
những biệt ngữ thần học có tính bí truyền, nhưng là một sự hiện diện ngôi vị ở
bên trong cầm giữ và thánh hoá những chuổi ngày cuộc sống.
Theo kinh nghiệm, tất cả chúng ta đều biết Thiên Chúa ở mức độ nào đó, nhưng các
nhà chiêm niệm là những chuyên gia về loại hiểu biết trực giác này. Điểm khác
biệt giữa họ với các nhà thần học mà họ đưa ra là những nhà thần học, những
người với tư cách là nhà thần học, nghiên cứu những chân lý của đức tin ở mức độ
lý trí. Câu trích sau đây từ William của Thánh Thierry làm sáng tỏ sự phân biệt
này từ quan điểm của nhà chiêm niệm:
Nhiệm vụ của người khác là phục vụ Thiên Chúa, còn nhiệm vụ của bạn là bám vào
Thiên Chúa; nhiệm vụ của người khác là tin Thiên Chúa, yêu mến Người, biết Người
và tôn kính Người, còn nhiệm vụ của bạn và nếm cảm Người, hiểu Người, quen biết
Người, có được Người.
Có thể nói, Thánh Têrêsa biết được những gì thánh nữ biết từ bên trong mầu
nhiệm. Thánh nữ biết Người Yêu của mình bằng ái lực. Thánh nữ biết trong sự lệ
thuộc của tình yêu, trong niềm tin không nghi vấn. Những gì thánh nữ biết không
dựa trên bất cứ lý luận có tính lý trí nào. Thánh nữ vui sướng trong sự kinh
ngạc với những gì mà mình biết, và điều đó cũng đủ cho thánh nữ.
Đường hầm tối
Nhưng làm sao một người đã cho là có nhiều ánh sáng như thế lại kết thúc trong
một đường hầm tối đen? Tôi nghĩ đó có hai lý do giải thích sự tăm tối trong
những tháng cuối đời Thánh Têrêsa. Trước hết là tiềm thức và thể lý của tuổi trẻ
khước từ việc “nhẹ nhàng đi vào trong đêm tối tốt lành đó”. Trên mức độ căn bản
này của con người, ta không ngạc nhiên khi khi thấy tính nội tại của sự cái chết
in dấu lên đức tin của thánh nữ, trong vĩnh cửu, bằng một câu hỏi kinh khủng.
Sự tăm tối của thánh nữ cũng có thể được hiểu dưới dạng sự phát triển đời sống
thiêng liêng của thánh nữ. Vào một thời điểm nào đó, có thể nói, những cá nhân
mà sự trung thành với ân sủng của họ đang làm cho họ thích nghi với môi trường
sự hiện diện của Thiên Chúa bị buộc phải công nhận sự bất xứng khi họ miêu tả về
Thiên Chúa bằng những ý niệm của họ. Họ tiến về phía trước. Nhưng biết Thiên
Chúa trong một cách lối thật hơn và chín chắn hơn có nghĩa là, một cách nghịch
lý, họ dường như họ biết Thiên Chúa ít rõ ràng hơn trước kia. Sau cùng, Thiên
Chúa là mầu nhiệm và họ càng biết Thiên Chúa rõ hơn, họ càng ý thức là họ không
thể nào với tới mầu nhiệm đó. Thực tại của Thiên Chúa làm vỡ tung tất cả các
ngôn từ, hình ảnh và ý tưởng mà trí khôn con người dùng để nói điều gì đó thật
về thực tại đó. Vì vậy, vượt khỏi một điểm nào đó, ánh sáng của Thiên Chúa được
kinh nghiệm như sự tối tăm; sự tròn đầy của thực tại Thiên Chúa như “Cái Không
Gì Cả”. Ơû một mức độ, những ai đang ở trong tình trạng tối tăm này thì ở gần
với những người vô thần hơn những Ki-tô hữu. Họ chia sẻ với những người cự tuyệt
chối từ một cảm giác trống rỗng, một cảm giác về Thiên Chúa như sự vắng mặt.
Mặc dù Thánh Têrêsa rất thận trọng về đường hầm tối mà thánh nữ đã đi vào năm
1896, thánh nữ thực sự đề cập đến điều này cách rõ ràng trong hai dịp. Một dịp,
như chúng ta đã biết, là khi thánh nữ nói với chị Pauline rằng sự thông suốt rõ
ràng của khoa học đã gây cho thánh nữ rất nhiều khó khăn. Trường hợp thứ hai
liên quan đến sự lúng túng của thánh nữ khi nói về thiêng đàng. Trong Bản Viết
Tay C, bản thánh nữ viết vào tháng 6 và 7 năm 1897, Thánh Têrêsa nói với Mẹ Bề
Trên Gonzaguea rằng thánh nữ luôn cảm thấy chắc chắn là thiên đàng đang chờ đợi
thánh nữ:
Sau đó, đám sương mù vây quanh con bỗng nhiên trở nên dày đặc hơn; nó thấm nhập
và bao phủ tâm hồn con đến nỗi con không thể khám phá ra trong tâm hồn hình ảnh
ngọt ngào Vương Quốc của Cha con; mọi sự đã biến mất! Khi con muốn làm cho cõi
lòng con nghỉ ngơi, một cõi lòng bị bóng tối bao quanh làm cho mệt lữ, bằng ký
ức về vương quốc sáng rực mà con khoa khát, thì nỗi dày vò nội tâm lại tăng lên
gấp đôi; đối với con, dường như bóng tối, vay mượn cung giọng của người tội lỗi,
chế nhạo con: “Ngươi đang mơ về ánh sáng, về vương quốc được ướp thơm bằng những
thứ dầu thơm ngọt ngào nhất; ngươi đang mơ về sự sở hữu vĩnh cữu Đấng Tạo Hoá
của tất cả những kỳ công này; ngươi tin rằng một ngày nào đó người sẽ bước ra
khỏi đám sương mù vây quanh ngươi! Tiến lên, tiến lên, mừng vui trong cái chết
mà sẽ ban tặng cho ngươi không phải những gì người hy vọng, nhưng là một đêm tối
sâu thẳm hơn, một đêm tối của sự hư vô”.
Đối tượng chính của sự nghi ngờ của Thánh Têrêsa rõ rằng là lòng tin của thánh
nữ hay là có lẽ nói chính xác hơn là “thánh nữ cảm thấy xác tín” rằng thiên đàng
tồn tại. Thiên đàng luôn là điều chi rất quan trọng đối với Thánh Têrêsa. Nó
đóng vai trò như bối cảnh hay tầm hiểu biết đã khuôn lên niềm tim của thánh nữ
vào một Thiên Chúa tình yêu, Đấng chăm sóc chúng ta và lôi kéo chúng ta đến với
Người.
Thiên đàng cũng là người bảo đảm cho sự an toàn riêng tư của thánh nữ. Như một
con trẻ, Thánh Têrêsa, người đã mồ côi mẹ lúc bốn tuổi, cần biết rằng mình được
yêu. Rõ ràng là thánh nữ được giúp đỡ bằng sự ấp áp của gia đình mình và thỉnh
thoảng bằng những lời phê bình của các cha giải tội của thánh nữ, nhưng sự nâng
đỡ lớn nhất của thánh nữ là những dấu chỉ của sự chấp nhận của những người ngoài
gia đình và các cha giải tội. Chính nụ cười thánh nữ thấy trên khuôn mặt của Đức
Bà Chiến Thắng đã kéo thánh nữ ra khỏi căn bệnh thần kinh đã xảy đến với thánh
nữ khi khi chị Paulin, “người mẹ thứ hai” của thánh nữ, rời gia đình để vào tu
viện Cát Minh. Những giai đoạn khác trong cuộc đời trưởng thành của thánh nữ cho
thấy thánh nữ cần sự chấp nhận như thế nào trong thực tế. Trong năm cuối đời,
thánh nữ đã kín múc được nhiều ơn ích từ một giấc mơ mà trong đó sơ Anne Giêsu,
người đã đưa các sơ Dòng Cát Men vào nước Pháp, bảo đảm với Thánh Têrêsa rằng
quả thật Thiên Chúa rất hài lòng về thánh nữ.
Các giai đoạn trưởng thành
Định hướng đến thiên đàng này là một phần đặc tính thời trưởng thành của Thánh
Têrêsa cũng nhiều như khi thánh nữ là một đứa trẻ nhỏ nhất trong một gia đình ân
cần chăm sóc cho con cái đã là một yết tố cốt lõi của cảm thức về bản thân thời
thơ ấu của thánh nữ. Sự an toàn trong vị trí của một trẻ thơ trong gia đình mà
thánh nữ luôn ghi nhớ bị vỡ tan vào đêm Giáng Sinh năm 1886 khi cha của thánh nữ
phản ứng một cách cáu kỉnh khi ông thấy đôi dày ắp đầy kẹo của thánh nữ đặt
trước lò sưởi. Thánh Têrêsa lúc đó mười ba tuổi và hiển nhiên đó là thời điểm để
thánh nữ lớn lên. Đó là chính xác những gì thánh nữ đã làm đúng lúc ấy.
Sự việc đó làm cho thánh nữ thật đau lòng, nhưng nó cũng đẩy thánh nữ vào một
giai đọan mới của sự phát triển. Việc thánh nữ mất đi cảm thức về thiên đàng mà
thánh nữ đã cảm nhận cũng có cùng hậu quả như vậy. thánh nữ mất đi điều chi thật
đáng ngưỡng mộ và thuận lợi, nhưng thánh nữ cũng thăng tiến đến một kinh nghiệm
lòng tin trưởng thành hơn. Thánh Têrêsa thật sự nhận ra rằng sự thử thách này
“đang lấy đi mọi thứ có thể làm cho thánh nữ thoả mãn tự nhiên khát vọng của
mình”. Sự mất mát là cái giá mà thánh nữ phải trả cho sự lớn lên. Kinh nghiệm
đên vọng Giáng Sinh ấy làm cho thánh nữ thoát ra khỏi thế giới tuổi thơ để bước
vào thế giới trưởng thành. Cùng một tính cách tương tự, việc làm tối tăm cảm
thức về thiên đàng của thánh nữ đuổi thánh nữ ra khỏi xã hội được che chở của
Kitô Giáo tư sản Pháp và nén thánh nữ vào thế giới hiện đại của sự nghi ngờ và
vô tín.
Nhưng câu hỏi mà chúng ta dùng làm khởi đầu đã trở lại: Tri thức được ca tụng về
những mầu nhiệm Thiên Chúa của thánh nữ đã trở nên điều gì? Sự chắc chắn như thế
có thể bị sự nghi ngờ tấn công thế nào? Vấn đề về sự hiểu biết bằng trực giác do
bởi ái lực mà thánh nữ lấy làm sung sướng chính là một sự hiểu biết chủ yếu nhờ
sự hiện diện của Người Yêu Dấu. Tri thức “được cảm nhận” mà bẩm tính mở ngỏ cho
ân sủng này trao tặng dường như có thể bị mất đi khi Thiên Chúa lấy đi khỏi linh
hồn cảm thức về sự hiện diện của Người. Sự tối tăm thay thế ánh sáng, và cá nhân
trở lại được soi sáng bằng nguyên đức tin mà thôi. Ta có thể tranh cải rằng tri
thức có được do ái lực hay sự tương hợp vẫn còn đó, cũng giống như Thiên Chúa
chắc chắn vẫn còn đó. Đây là sự thật, nhưng sự thể của vấn đề thì cũng chẳng có
sẵn cho nhà chiêm niệm bằng cách thế cũ tương tự suốt thời gian tăm tối. Trong
trường hợp của Thánh Têrêsa, sự tăm tối kéo dài đến hơi thở cuối cùng.
Những chất vấn
Tri thức về khoa học của thánh Têrêsa có lẽ không sâu sắc lắm, nhưng sự quyến rũ
ngắn ngũi của tuổi trẻ với vấn đề đã chỉ cho thánh nữ thấy rằng khoa học có thể
giải thích nhiều mầu nhiệm hiển nhiên. Bây giờ nhận thức của thánh nữ về sự thể
đó gợi lên nhiều chất vấn gây nhiều xáo trộn. Sự hiểu biết minh bạch của khoa
học có làm cho Thiên Chúa trở nên không cần thiết không? Có phải những gì chúng
ta thấy quả thật là tất cả những gì chúng là không? Có phải con người chỉ là một
con vật ganh đua với số phận của một con vật khác? Cuối cùng, khoa học có trao
tặng chúng ta một lời giải thích duy nhất và đích thực của tất cả hiện hữu?
Nếu thánh nữ có thể nói rằng thánh nữ bị cám dỗ suy nghĩ như những người theo
chủ nghĩa duy vật tinh tế nhất, thì đây là những câu hỏi phải đến với thánh nữ.
Đây là những câu hỏi về trí tuệ, nhưng Thánh Têrêsa thiếu thời gian, sức mạnh và
tài xoay sở để đối phó với chúng ở mức độ đó.
Các cha giải tội của thánh nữ chỉ đơn giản khuyên thánh nữ kềm chế các suy nghĩ
của mình và kiên định trong đức tin. Đây là những gì thánh nữ đã làm. Bằng sự
hóm hỉnh thường ngày, thánh nữ đã cho biết là thánh nữ đã không dự định “không
đập vỡ đầu óc “bé nhỏ” của tôi đang tra tấn chính tôi” và tiếp tục chiến đấu với
những nghi ngờ của mình bằng những hành vi đức tin. Thậm chí thánh nữ đã dùng
máu của mình để viết ra kinh tin kính và giữ bản kinh ấy gần con tim của thánh
nữ. Nói cách khác, thánh nữ lựa chọn sống trong đêm tối bằng đức tin tinh khiết.
THẦN HỌC VỀ SỰ BÉ NHỎ
Thiên Chúa đã chọn những gì bé nhỏ, yếu hèn. Nhìn sâu vào mầu nhiệm nhập thể,
mầu nhiệm thánh giá, mầu nhiệm Thánh Thể, chúng ta thấy Thiên Chúa đã chọn những
con đường rất khiêm hạ. Thiên Chúa mặc khải chính mình trong những hình thức
không chút gì là quyền lực. Chúa mặc khải tình yêu của Ngài. Tình yêu là một sức
mạnh mà không một phạm trù nào về quyền lực có thể diễn tả được, nhưng lại rất
hùng hồn khi tự hạ hy sinh.
Chúa chọn những sứ giả tình yêu để họ cộng tác vào việc xây dựng Nước Tình Yêu
của ngài. Đây cũng là những chọn lựa do lòng thương xót của Ngài, chứ không do
công phúc và áp lực của bất cứ ai. Ngài có thể chọn những con người bé mọn yếu
hèn. Trong cuốn Tự Thuật, Têrêxa kể lại: Một hôm, trong phòng, Têrêxa tình cờ mở
Phúc Âm và gặp ngay đoạn viết : "Chúa Giêsu lên núi, Ngài kêu gọi những kẻ Ngài
muốn; và họ đã đến với Ngài" (Mc 3,13). Đó là mầu nhiệm ơn gọi của tôi… Chúa đã
không gọi những người xứng đáng, nhưng kêu gọi những người Chúa muốn, như thánh
Phaolô đã viết : "Chúa thương xót những người Chúa ưa thích và Chúa xót thương
kẻ Chúa muốn xót thương. Như thế sự được ơn không phải là công trình của kẻ muốn
hoặc kẻ chạy chọt, nhưng là của Chúa thương xót mà thôi" (Rm 9,15-16).
Têrêxa rất ý thức chân lý đó, ngài còn đi xa hơn, khi khẳng định rằng: Chúa
thương ngài không phải vì ngài có công phúc gì, mà chính sự yếu đuối bé nhỏ của
ngài. Hơn nữa Têrêsa còn quả quyết : "Cuối đời, con sẽ tay không ra trước mặt
Chúa. Bởi vì lạy Chúa, con không xin Chúa đếm các việc con làm. Con biết tất cả
các việc công chính của chúng con đều mang vết nhơ trước mặt Chúa." Têrêsa nhận
biết sự khó nghèo thiêng liêng và bé nhỏ của mình, ngài chỉ trông cậy vào ơn
thương xót Chúa mà thôi.
Qua thánh nữ Têrêsa, Chúa đang kêu gọi mọi người, nhất là những người tự mãn cho
mình là đạo đức, hãy trở về tinh thần khiêm tốn, khó nghèo và bé mọn. "Ai hạ
mình xuớng như trẻ này, người ấy là kẻ lớn nhất trong nước Thiên Chúa" (Mt18,4).
Lời Chúa trên đây ghi lớn trên trần nhà nguyện Dòng kín Carmel là một bài thần
học rất quan trọng cho Hội Thánh tương lai.
Kết luận
Têrêsa đã vui lòng chịu đau khổ trong tăm tối bởi vì ngài đã nhận ra rằng trong
nhiều cách ngài rơi vào cảnh tăm tối mà trong đó có nhiều thử thách vây kín.
Ngài nhận ra với những người không tin, những người mà ngài gọi là “anh chị em”
của ngài, gần gũi họ hơn nữa. Ngài đã làm cho nhận thức của ngài đối về họ cách
rõ ràng hơn trong câu chuyện về một vương quốc tăm tối, đã không nhận ra Vua của
Ánh Sáng đã đến ở giữa họ trong 33 năm:
Lạy Chúa, con cái Chúa đã hiểu về ánh sáng thánh thiêng của Ngài và xin Ngài tha
thứ cho những anh chị em đó. Thiên Chúa đã trao cho thánh nữ chén đắng bao lâu
mà muốn; Ngài đã không ước mong được thoát khỏi những đắng cay mà Thiên Chúa
dành cho các những tội nhân đáng thương phải chịu. Ngài không thể nói là nhân
danh cá nhân Ngài mà là nhân danh những anh chị em của Ngài, “Xin thương xót con
cùng, lạy Chúa, vì chúng con là những tội nhân đáng thương”. Ôi! Lạy Chúa đừng
xét xử chúng con. Có thể tất cả những ai mà không được ngọn lửa đức tin soi sáng
thì một ngày nào đó sẽ được ánh sáng chiếu soi. Ôi lạy Chúa Giêsu! Nếu cần thiết
thì xin Ngài hãy thanh tẩy những kẻ gây ra tội lỗi vì một linh hồn yêu mến Ngài,
kế đến con ước ao được đón nhận thử thách vì những lỗi lầm đó đến khi mà Chúa
sẵn sàng mang con đi vào trong vương quốc Ánh sáng của Ngài. Ân sủng duy nhất
con van xin Ngài đó là đừng để con bao giờ xúc phạm đến Ngài.
Têrêsa thật sự là một vị thánh thời đại, là một mẫu gương của thời đại – bởi vì
ngài đã chết trong sự tăm tối của ngờ vực mà nhiều người đương thời của thánh nữ
đã lạc lối. Thánh nữ sẵn sàng vào cõi âm ti nếu Thiên Chúa được tán dương ở đó.
Những lời cầu nguyện của thánh nữ đã được đáp trả. Nhưng địa ngục mà Thiên Chúa
đã cho thánh nữ chính là cơ hội để công bố lòng tin và tình yêu của thánh nữ là
khía cạnh tăm tối trong thời đại của ngài. |