|
TÊRÊXA AVILA
Cát
Sa Mạc

I. BẢNG TÓM TẮT TIỂU SỬ THÁNH TÊRÊXA AVILA
Năm |
Tuổi |
Biến cố |
Chú thích |
1515 |
|
Năm sinh của thánh nữ |
Nguyên tên là : Teresa Sanchez de Cepeda y Ahumada |
1539 |
19 |
Vào Dòng Cát minh tại Avila, lúc ấy sinh hoạt của Dòng còn rất thoải mái |
Têrêxa cũng sống thoải mái như thế khoảng 15 năm |
1555 |
40 |
Cảm nghiệm cuộc chuyển đổi nội tâm sâu xa khi Thánh nữ nhìn một ảnh Chúa Giêsu bị đánh đòn |
Từ đây sức thần linh tuôn đổ trên Thánh nữ với sức mạnh làm cho Thánh nữ và nhiều người khác phải kinh ngạc.
Những thị kiến của Chị đều được các nhà thần học nổi tiếng công nhận là thực |
1560 |
45 |
Một thị kiến khủng khiếp xảy ra |
Thánh nữ tuyên khấn sẽ thực hiện những gì toàn thiện tuyệt hảo và trung thành tuân giữ luật Dòng cách nhiệm nhặt |
1562 |
47 |
Thành lập những tu viện Cát minh “cải tổ” |
được gọi là
"những chị đi chân đất” |
1573 |
58 |
Theo lời khuyên của Thánh Gioan Thánh giá |
Chị ghi lại ký ức về cuộc đời của Chị.
Tác phẩm quan trọng nhất là quyển “Lâu Đài Nội Tâm” |
1582 |
67 |
Qua đời |
Tại Alba de Tormes |
1970 |
|
Đức Thánh Cha Phaolô VI phong Bà lên hàng Tiến sĩ Hội Thánh |
|
II. BỐI CẢNH LỊCH SỬ
Sự tương phản trong thế giới tự nhiên và thế giới siêu nhiên hiển hiện rất rõ nơi cuộc sống hai
mặt của Thánh Têrêxa, và sự tương phản ấy càng nổi rõ hơn, do hoàn cảnh lịch sử lúc Chị sinh ra.
Lúc ấy là lúc thế giới đang trên đà phát triển và đặc biệt đang bị tục hóa.
Thế kỷ của Têrêxa không còn là thời kỳ chuyển tiếp giữa trung cổ và hiện đại, nhưng
đó đã là giai đoạn đầu của thời hiện đại xét về mọi phương diện. Chỉ trong vài thập niên
thôi- và Têrêxa sống trong những thập niên này- mà thế giới đã được mở rộng từ lục
địa này tới lục địa khác do tinh thần hiếu động của thời ấy. Miền Bắc Mỹ đã được khám phá.
Cortes vừa chinh phục Mêhicô, Magellan đã đi vòng quanh cực nam của tân thế giới và đã tìm
thấy Phi Luật Tân. Thế giới bắt đầu trở nên tròn như một quả địa cầu, và vàng bạc châu báu
do các nhà mạo hiểm mang về từ hải ngoại đã làm cho thế giới cũ trở nên giàu có.
Quyền lực trở thành lý tưởng của những ai có tinh thần thế tục thích chinh phục. Đó là
thời đại phát sinh những tư tưởng thống trị thế giới, tư tưởng đế quốc kiểu mới.
Xu hướng tục hóa này cũng ảnh hưởng trên những nỗ lực sống tu đức lúc đó. Người ta không còn
nhìn vào mình nữa, nhưng nhìn ra chung quanh, và những điều họ thấy nơi đây đã thu hút hết mọi
chú ý của họ cũng như đã thôi thúc họ truy tầm và khảo sát. Trái đất, với những gì có mặt
trong đó, lúc này, đã chiếm chỗ của trời cao. Những chân trời kiến thức mà xưa nay chẳng
ai dám hoài mong nay được khám phá. Những kho tàng hiểu biết đã được gom lại trong tương lai.
Thế kỷ thứ 16 đã nhìn thế giới như một nơi cụ thể, toàn là những lãnh vực và địa hạt bị
chinh phục, các lục địa được khám phá, đại dương bị vượt qua và vàng bạc châu báu được gom
về để tha hồ hưởng thụ, nhưng đó cũng là một thế giới của khoa học và hiểu biết: sự thật
của vạn vật đang được khai mở.
Chính trong thời đại ấy, khi thế giới bên ngoài đã dành được những chiến thắng vẻ vang
trên hết mọi lãnh vực như thế, Têrêxa cũng thu được những thành công lẫy lừng trong thế
giới nội tâm của mình, một thế giới không có vị trí nhưng lại rộng rãi vô cùng, không vàng
bạc và đất đai nhưng giàu có hơn nhiều, không đánh nam dẹp bắc nhưng lại an toàn vô kể,
không có hình thù cụ thể nhưng lại có thật hơn cả địa cầu mà loài người vừa mới chinh phục.
Các nhà mạo hiểm đã thấy nào là Mỹ Châu, Ấn Độ, Java và Panama, còn Chị đã thấy cõi vô biên.
Những chuyến tàu chở đầy vàng bạc từ những thế giới mới chinh phục trở về từ cửa biển
Guadalquivir, còn Chị trở về trái đất với những thị kiến trên trời, mang theo đầy hoan
lạc, nhiều tới độ không khoang tàu nào chứa nổi.
Trước một thế giới được cai trị do quyền lực, Chị giới thiệu thế giới nội tâm của Chị, một
thế giới được chinh phục không nhờ đến quyền lực nhưng được cai trị bằng cách tự hạ bệ
chính mình. Hoàn toàn hạ bệ mình, đó là nền móng xây dựng vương quốc Thiên Chúa nơi Chị.
Trước một thế giới đam mê tiêu khiển và nói cười thỏa thích, Chị kể cho mọi người nghe một
thế giới nơi đó, chỉ nhờ chăm chú hoàn toàn, nhờ cầu nguyện linh thiêng và thầm lặng, con
người đã được ban cho niềm hoan lạc cao đẹp ấy.
Chân lý của Chị là phản đề lại chân lý khoa học. Đối với nhà khoa học, tri thức của giác quan
là đường dẫn tới chân lý, lý trí hay đo lường là thước đo, thí nghiệm là bằng chứng cho chân
lý. Còn Têrêxa, những thị kiến nằm ngoài tầm kiểm soát của giác quan mới là đường đưa tới sự
thật, cảm giác mênh mông không thể đo lường được mới là thước kiểm tra sự thật và kinh nghiệm
thần hiệp mới là nguồn cung cấp những bằng chứng cho sự thật.
Thế giới của những dữ kiện và thế giới của những thị kiến đối chọi với nhau như hai địch thủ.
Copernicus khám phá ra mặt trời là trung tâm của vũ trụ bằng những tính toán thiên văn của mình.
Ông đã đi tới kết luận rằng mặt trời là trung tâm thế giới, trái đất đã bị dáng cấp, nó chỉ là
một vệ tinh, không còn là trung tâm vạn vật nữa. Con người cũng không còn là chủ vũ trụ, mà chỉ
là kẻ trông coi trái đất.
Têrêxa thăm dò vũ trụ của linh hồn bằng những thị kiến xuất thần và cũng đi tới kết luận rằng
trung tâm sâu xa nhất, mà cả mặt trời lẫn trái đất đang xoay quanh, đang nằm sâu trong linh
hồn con người. Nếu Copernicus khám phá ra mặt trời là trung tâm của vũ trụ, thì Têrêxa khám
phá ra một khoa thiên văn của linh hồn, trong đó có Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và là “Mặt Trời”
của mọi mặt trời, đang hiện diện trong linh hồn con người. Con người là đầu hết và là cuối hết
của mọi sự.
Kepler, một người đồng thời với Têrêxa đã tìm ra định luật hấp dẫn vật thể. Còn Têrêxa, đã
tìm ra định luật hấp dẫn linh hồn. Vesalius, nhà giải phẫu học trẻ tuổi ở Basle, đã mổ một
thi thể con người và nghiên cứu các bộ phận trong đó. Còn Têrêxa, một nữ tu ở Avila, đã phơi
trần linh hồn. Servet đã tìm ra sự lưu thông hạn hẹp của máu để nuôi dưỡng cơ thể. Còn Têrêxa
tìm ra sự lưu thông rộng lớn hơn của ánh sáng thần linh để nuôi dưỡng linh hồn.
Chiếc đồng hồ chính xác đầu tiên đã được chế tạo. Dòng thời gian bắt đầu được đo từng phút. Thế
nhưng Têrêxa vẫn nghiệm thấy thời gian không thể phân chia được, thời gian không thể qua đi
vì thước đo thời gian là vĩnh cửu.
Một thế kỷ say mê lý trí lạnh lùng như thế, đang bị thách thức bởi một nữ tu Tây Ban Nha đã
vươn tới mức cao cả siêu phàm là đã vào được những thị kiến vượt thời gian.
Đang khi đó quyền lực rộng khắp của Hội thánh đã bị lung lay mãnh liệt. Năm Têrêxa chào đời
là năm Luther tuyên bố ly khai với Hội thánh, Calvin biến Geneve thành một Roma thứ hai,
Vua Henri VIII đã thành lập Hội Thánh riêng, và Nữ hoàng Mari của xứ Xcốt- len đã khiêm
tốn thần phục những mệnh lệnh của nhà lạc giáo John Knox.
Những hình thức đạo đức cổ truyền đã mất đi nhiều sức mạnh do sự công kích dữ dội của khoa học
và những thế lực tục hóa khác. Để bảo vệ đạo công giáo, các vua đã cầm khí giới và các nhà giảng
thuyết nổi tiếng đã ra sức củng cố đức tin bằng cách đưa ra những lời đe dọa về hình phạt nặng
nề ở thế giới bên kia. Các Hồng y, Giám mục và những nhà thần học đã tập trung tại Công đồng
Trentô để giải quyết công việc biên soạn một bộ tín lý mới của Công giáo. Một đội quân có tổ
chức gồm toàn những tinh binh của Thiên Chúa đã được Thánh Inhaxiô Lôiôla kéo vào trận chiến
quyết định để chống lại các lực lượng của anh em Cải cách. Các vị tiến sĩ của Hội thánh đã
trưng dẫn hàng loạt các tác giả có thế giá hoặc dùng một phương tiện hợp thời hơn là lấy lý
trí chứng minh Thiên Chúa để củng cố đức tin cổ truyền của Hội thánh.
Thánh Têrêxa đã ghi lại tất cả những gì chị đã tiếp thu được trong căn phòng tĩnh mịch của mình,
những điều nằm bên kia những xáo trộn của thời gian và không gian lúc ấy, bên kia những tín
điều và luận chứng thần học, bên kia những hiểu biết và tri giác của mình. Chị ghi lại những
lần Thiên Chúa vô hình tới thăm Chị bằng thứ ngôn ngữ vô âm vô sắc của Ngài.
Hội Thánh đang suy sụp đó rút tỉa từ đây những sức lực mới, một sức sống xuất phát từ miền
sâu xa nhất của kinh nghiệm đức tin, từ nguồn mạch chân thật nhất của kinh nghiệm đạo đức,
từ sự tiếp xúc thẳng với Thiên Chúa.
Hội Thánh lúc ấy chỉ nhìn Đức Kitô như một cái tên mang nghĩa tượng trưng, như một đối tượng
của tín ngưỡng, như một đề tài cho các nhà thần học khảo luận. Thế nhưng nhờ Têrêxa, Hội thánh
sực nhớ rằng Đức Kitô là một thực tại sống động, đó là Đức Kitô mà các môn đệ đã gặp trên
đường về Emmau, mà Saolô thành Tácsê đã thấy trên đường đi Đamát, là Đức Kitô đã khai sinh ra
đức tin của Hội thánh và là nguồn cho Thánh Phanxicô Assisi làm mới lại đức tin.
III. LINH ĐẠO: ĐẶC TÍNH NỔI BẬT CỦA ĐỜI SỐNG TÂM LINH
Bằng đời sống chiêm niệm và yêu mến sự nguyện gẫm, Thánh nữ Têrêxa đã thực sự hiện diện với Đức
Kitô, nhờ đó Ngài kết hợp mật thiết với Chúa Ba Ngôi và gắn bó với Giáo Hội.
1. Đời sống chiêm niệm
Có lẽ người ta có lý, khi xem Thánh Têrêxa trước tiên và trên hết như một nhà chiêm niệm.
Thật vậy, linh đạo Cát minh đã nhờ Chị mà thêm phong phú và thâm thúy trong lãnh vực nguyện
ngắm và đời sống thần bí. Tuy nhiên, con người và vai trò của Thánh nhân vượt ra khỏi khuôn
khổ ấy, vì Chị đã sống đời sống kết hợp với Thiên Chúa bằng với tất cả con người mình. Chị
đã từ bỏ mọi sự, nhưng không bác bỏ chút gì; Chị đã muốn bắt toàn thể các khát vọng, tư tưởng,
tấm lòng, sức lực và đời sống mình suy phục Thiên Chúa.
Như giới răn Thiên Chúa đã truyền cho chúng ta đó là “Mến Chúa, yêu người”, Dòng Cát Minh
chủ yếu đã triển khai hai mặt của giới răn này. Hai mặt đó hướng đến Thiên Chúa và anh em.
Hai mặt này chính là linh đạo của Dòng Cát Minh, nó làm nên nhịp sống của Dòng. Trước khi
nghĩ về cuộc sống ấy, Têrêxa đã sống nó một cách sâu đậm, và điều này ảnh hưởng đến cuộc cải
tổ Chị thực hiện. Nhưng Chị sống điều đó theo chính tinh thần của Dòng Cát Minh, nghĩa là
dành địa vị ưu tiên cho chiêm niệm.
Là con người thực tế, Têrêxa hiểu rằng phải suy nghĩ lại toàn bộ đời sống của các nữ tu Cát
Minh, theo hướng chiêm niệm ấy. Sẽ phải tái lập nội vi chặt chẽ, thinh lặng, lao động trong cô
tịch, để tạo bầu khí thuận lợi giúp cho việc kết hợp với Thiên Chúa được triển nở. Để thấy được
vai trò đích thật của Têrêxa, ta phải phân tích toàn bộ các tác phẩm của Chị, những lời khuyên
thiêng liêng, các cảm nghiệm thần bí của Chị. Tất cả những cái đó đều nhằm khôi phục đời sống
chiêm niệm đích thật, đời sống kết hợp với Thiên Chúa.
Thánh nữ đã soạn Bản Hiến pháp từ thực tế, với một ý thức thông thạo về điểm chừng mực, kèm
theo một sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý, nói tóm lại Chị làm việc một cách rất khôn ngoan. Nhờ
ảnh hưởng kiên trì của Chị, khái niệm về chiêm niệm không còn trừu tượng nữa. Nó đâm rễ vào
trong mọi hoạt động của đời sống và hội nhập vào đó. Có một tương quan mật thiết giữa cầu nguyện
và cuộc sống, giữa luân lý và thần bí, giữa cách cư xử bên ngoài và kết hợp với Thiên Chúa.
Têrêxa đã nối kết bằng nhiều cách, thiết lập những tương quan, bắc những nhịp cầu giữa đời
sống thần bí cao nhất với sự hiến mình, nhu cầu yêu thương với cách thực hành tình huynh đệ
khiêm tốn nhất.
Trong đời tu chiêm niệm như Têrêxa quan niệm và tổ chức có một sự duy nhất, không phải là một
áp lực bên ngoài, nhưng nhờ một nguyên lý nội tại vừa êm dịu vừa mạnh mẽ: đó là tình yêu. Tâm
hồn chiêm niệm phải ước mong tự hiến dâng cho Đấng mình yêu, kết hợp với Người và phụng sự Người.
Đời tu chiêm niệm cũng được thực hiện theo những quy tắc rất khôn ngoan. Như một trong những
sử gia của Têrêxa gần đây nhất đã nói một cách thật chí lý:“Têrêxa đã có thể giải quyết được
hai vấn đề rất tế nhị với óc thực tiễn theo đúng truyền thống Công giáo: đó là vấn đề tương
quan giữa các đòi hỏi của sự kết hợp với Thiên Chúa và các đòi hỏi của bản tính con người;
giữa khuôn khổ thông thường với sự triển nở đời sống thần bí của riêng mỗi người”. Khổ hạnh
mà Chị đã sống và đã nêu rõ sự cần thiết, là một thứ khổ hạnh rất nhiệm nhặt, nhưng luôn hợp
lý. Các thực tại trần gian khiêm hạ là mảnh đất ta phải sống, để từ đó tinh thần vạch ra đường
đi đến Chúa. Việc đi đến với Thiên Chúa tùy thuộc các thực tại ấy. Nhờ Têrêxa mà Dòng Cát Minh
có được đà vươn tới và một cảm thức sâu xa về tâm lý. Trước đó, Dòng vốn đã thực tế, nay nhờ
ảnh hưởng của Chị, lại càng thực tế hơn. Chưa từng có ai nêu rõ như Chị về các căn bản của đời
sống thiêng liêng, sự cần thiết phải xây dựng tất cả trên việc từ bỏ ý riêng, sự quảng đại
trong việc chu toàn thật hoàn hảo trong bổn phận của mình, tình bác ái huynh đệ, chịu đựng
người khác. Các nhân đức rất thực tế ấy sẽ làm nền tảng chống đỡ cho cả tòa nhà thiêng liêng
được vững vàng và duy nhất. Thật vậy, không thể để cho có sự rạn nứt nơi con người, sự chia
cắt giữa đời sống tự nhiên và đời sống siêu nhiên.
Khi có được tính thực tế tinh ròng ấy, đời sống thần bí sẽ làm cho con người trở nên thật duy
nhất. Sự duy nhất ấy nối kết mọi yếu tố và tái sinh chúng nhờ một nguyên lý cao hơn, đó là
một trong những sự đóng góp quý báu của Thánh nữ cho linh đạo Dòng Cát Minh.
2. Yêu mến sự nguyện gẫm và nguyện gẫm hệ tại sự yêu mến
Thánh Têrêxa muốn tâm hồn được thống trị bởi nguyên lý cao hơn và có được sự hiệp nhất chủ yếu
nhờ nguyện gẫm. Ai cũng biết Thánh nữ là bậc thầy lừng danh về nguyện gẫm. Về điểm chính yếu
này, sự đóng góp của Chị vừa độc đáo vừa phù hợp với truyền thống.
Hợp với truyền thống, vì cũng như tất cả các bậc linh sư tiền bối, Têrêxa muốn hướng các tâm
hồn chiêm niệm đến đỉnh cao của sự kết hợp với Thiên Chúa. Để đạt tới kết quả đó, Chị nhờ
đến việc nguyện gẫm, trong đó Thiên Chúa và tâm hồn cùng làm việc, mỗi bên, trên bình diện
của mình.
Hợp với truyền thống, vì cũng như những người đi trước, Thánh nữ cho rằng lý tưởng của sự
chiêm niệm đưa đến sự kết hiệp biến đổi, không phải là một điều ngoại thường, nhưng là sự
viên mãn của đời sống thiêng liêng. Thế nên, Chị khiêm tốn ước mong điều ấy, vì biết rằng
sự chiêm niệm luôn là một ơn nhưng không của Thiên Chúa. Đối với Thánh nữ “nguyện gẫm không
hệ tại ở chỗ nghĩ nhiều, nhưng ở chỗ yêu mến nhiều” và cũng theo Thánh nữ “yêu mến là hiến
mình trọn vẹn, dâng hiến ý mình cho Thiên Chúa, dù cho ý Thiên Chúa có là thập giá đi chăng
nữa, đến nỗi tìm được niềm vui trong đau khổ, nếu đau khổ ấy làm đẹp lòng Đấng Chí Ái.
Tâm hồn yêu mến Thiên Chúa thì mong ước được chiếm hữu Người. Lý tưởng tận hiến nơi người
ấy đi kèm với ước muốn một cuộc kết hiệp thần bí.”.
3. Nguyện gẫm là hiện diện với Chúa Kitô để kết hợp với Ba Ngôi và để gắn bó với Giáo Hội
Trong nguyện gẫm như Têrêxa đã kinh nghiệm và dạy cho con cái mình, Chúa Kitô giữ một vai
trò quan trọng. Đây là một trong những điểm độc đáo của linh đạo Têrêxa. Phương pháp nguyện
gẫm để mọi người khởi đầu, tiếp tục và kết thúc là hiện diện bên Đấng Cứu Thế, điều ấy hữu
ích cho mọi đức độ. Thánh nữ dành nhiều chỗ cho Chúa Kitô trong nguyện gẫm. Đối với Chị
thì không thể chối cãi được rằng Chúa Kitô là tất cả.
Tuy nhiên, tiến trình vai trò của Chúa Kitô trong nguyện gẫm của Thánh nữ cũng quan
trọng không kém vị trí của Người. Lúc đầu, Thánh nữ không ngừng có Chúa Kitô trước mắt,
rồi lần hồi Chị chuyển sang suy gẫm mầu nhiệm của bản vị Người. Sau đó Chị coi Chúa Kitô
như người hướng dẫn và người bạn đường; do đó, đối với Thánh nữ, Chúa Kitô đã trở nên
con đường dẫn tới Chúa Cha. Thánh nữ kết hợp với Chúa Cha nhờ Chúa Con Nhập Thể. Sau cùng
nhờ Chúa Kitô, Têrêxa được đưa vào Ba Ngôi Thiên Chúa mà tầm quan trọng không ngừng gia
tăng trong đời sống nội tâm của Chị. Chính Chúa Kitô đã đưa Têrêxa đến với Thiên Chúa Ba
Ngôi. Chúa Kitô đã khiến cho Têrêxa ý thức được về Thiên Chúa như cứu cánh tối hậu, sự
toàn năng tuyệt đối, câu trả lời cho tiếng gọi của tâm hồn Chị. Chúa Kitô đã đưa Chị vào
trong mầu nhiệm vốn ở đầu nguồn và kết cuộc của mọi đời sống thần bí.
Chính khởi từ Chúa Kitô mà Thánh Têrêxa ý thức sâu xa về thực tại Giáo Hội. Đành rằng,
Chị vẫn luôn tuân phục Giáo Hội, với một lòng trung thành trọn vẹn, nhiệt thành vui tươi
và Chị sẽ còn tuân phục như thế cho đến cùng. Tuy nhiên còn có cái gì hơn thế nữa trong
tiếng kêu của Chị trong lúc hấp hối: “Tôi là con của Giáo Hội”. Giáo Hội ở đây không chỉ
là Giáo Hội hữu hình, Giáo Hội theo truyền thống đã đâm rễ sâu trong tâm hồn một nữ tu
người Tây Ban Nha, Giáo Hội mà mặc dầu nhận thấy các khía cạnh nhân loại yếu đuối, Chị
vẫn không ngừng xin ban cho quy tắc để tin, một quy tắc để sống và các ánh sáng để soi
dẫn tâm hồn mình: Giáo Hội đối với Têrêxa trước tiên là Chúa Kitô.
Cái nhìn sáng suốt và phổ quát ấy về Giáo Hội, lòng tin tưởng tuyệt đối của Chị dành
cho Giáo Hội , thì Chị có trước tiên là nhờ sự kết hợp thần bí với Chúa Kitô. Đối với
Thánh Têrêxa, Giáo Hội không chỉ là một thực tại hết sức sống động, mà Giáo Hội còn được
thiết lập nền tảng tín lý vững vàng và phong phú nhất. Giáo Hội là một thành phần của
Chúa Kitô đòi được ta yêu mến cách tích cực và hoạt động, chứ không chỉ bằng chiêm ngưỡng
và kết hợp. Đối với Têrêxa, Giáo Hội là Chúa Kitô, nhưng nhìn dưới khía cạnh tông đồ.
Ở đây, Thánh nữ đã tìm lại và đồng thời đổi mới tinh thần của Dòng mình hướng về một mục
đích với hai mặt: chiêm ngắm mà đi đến kết hợp với Thiên Chúa và khám phá ra giá trị vô
cùng của các linh hồn được Chúa Kitô cứu chuộc, rồi thì triển nở thành hoạt động tông đồ.
Nói tóm lại, toàn bộ đời sống chiêm niệm của Thánh Têrêxa được xem xét lại và cải tổ theo
đúng lý tưởng đích thực của Dòng Cát Minh; đổi mới và “đào sâu” đời nguyện gẫm khởi từ
Chúa Kitô để kết hợp với Ba Ngôi, đời nguyện gẫm được cảm nghiệm và mô tả với mọi sắc
thái của nó đến tận đỉnh cao nhất của đời sống thần bí; cảm thức sâu rộng và chắc chắn
về Giáo Hội và về việc tông đồ chiêm niệm: đó là những đóng góp của Thánh nữ vào trong
linh đạo Cát Minh. Chị đem các nét phong phú ấy đến trong một bầu khí cởi mở, nhiệt
thành, quân bình, một niềm vui rộng lớn và mạnh mẽ. Do đó ta hiểu vì sao Thánh nữ là
khuôn mặt tỏa sáng nhất của Dòng Cát Minh.
IV. ỨNG DỤNG VÀO ĐỜI SỐNG CHỦNG SINH LINH MỤC HÔM NAY
Thánh nữ Têrêxa Avila là một người phụ nữø đặt biệt với tâm hồn nhiệt thành, một trực giác sáng
suốt, và một tài cải tổ đáng kinh ngạc. Ngài là một vị Thánh Tiến sĩ của Hội Thánh, không
những vì Chị đã được ơn thị kiến và những ơn đặc biệt Chúa đã ban mà còn vì Chị đã không
sợ thực hiện điều Chúa muốn. Thánh nữ nêu tấm gương cho một đời sống chiêm niệm, một đời
sống liên lỷ kết hợp với Chúa; qua việc nguyện gẫm để hiện diện với Chúa Giêsu, kết hợp
với Chúa Ba Ngôi và gắn bó với Giáo Hội.
Sống trong xã hội náo động hôm nay, có được một đời sống cầu nguyện, nhận ra sự hiện diện
diện của Chúa, lắng nghe và thực hiện những dự phóng của Chúa, là một điều thực sự cần thiết
cho người có niềm tin, đặc biệt cho những tâm hồn tận hiến.
Đời sống linh mục triều được kêu gọi nên thánh trong mục vụ và trong việc loan báo Tin Mừng
(Pastores dabo vobis số 23). Thế nhưng không thể làm mục vụ mà quên đời sống cầu nguyện.
Trong tông huấn Pastores dabo vobis nói rõ: “Đời sống cầu nguyện phải được “cải tổ” liên
lỷ nơi linh mục. Kinh nghiệm dạy rằng, trong lãnh vực nguyện ngắm, không thể chỉ cậy dựa
vào những gì mình thủ đắc được...” Như vậy, trong đời sống theo Chúa, tôi đã sống đời sống
cầu nguyện như thế nào? đặc biệt tôi sử dụng những giờ nguyện gẫm hằng ngày như thế nào?
Tôi đã biết kết hợp với Đức Kitô chưa? Đời sống chủng sinh linh mục của tôi làm sao phải
hài hòa được đời sống cầu nguyện với đời sống hoạt động mục vụ. Trong đời sống tôi đã tập
được sự hài hòa này chưa?
Pastores dabo vobis số 12 cho chúng ta thấy rõ căn tính của linh mục: “...linh mục nhờ sự thánh
hiến đã lãnh nhận qua bí tích truyền chức thánh, được sai đi bởi Chúa Cha, nhờ Đức Kitô, và một
cách đặc biệt được nên đồng hình đồng dạng với Ngài. Đấng là Đầu và Mục Tử của dân Ngài,
để sống và hoạt động, trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần, nhằm phục vụ Giáo Hội và cứu độ
thế giới.”. Qua lời dạy của Giáo Hội và qua linh đạo của Thánh Têrêxa, tôi cố gắng đến với
Chúa Giêsu để kết hợp với Chúa Ba Ngôi và phục vụ Giáo Hội, ngoài ra làm công việc tông đồ
nhằm cứu độ thế giới.
Tình yêu Đức Kitô đang thúc bách tôi và bạn. Tôi và bạn đã nhận ra và đáp trả như thế nào?
Đó là câu hỏi được đặt ra cho tôi và bạn khi tìm hiểu và chiêm ngắm gương Thánh nữ Têrêxa Avila.
|