|
ƠN HUỆ, ĐẶC SỦNG VÀ NHỮNG TÁC VỤ CỦA THÁNH THẦN
Thuận Hà
biên dịch

Thực tế, tất cả những gì tốt lành chúng ta có về vật chất hay
tinh thần đều là ơn huệ của Thiên Chúa ban cho chúng ta. Thí
dụ như ánh nắng mặt trời, không khí, thân xác, linh hồn
chúng ta, thân nhân, láng giềng, loài vật, cây cỏ, sông núi
v.v.. bất cứ một ơn huệ hay ơn sủng nào kể từ ơn cứu chuộc
và sự sống đời đời cho chí ơn nâng đỡ chúng ta để thông hiệp
với anh em trong đức tin. (Rm.5:15-16; 6:23, 11:29).
Còn đặc sủng là một ơn huệ tốt lành do tình thương của Thiên
Chúa ban xuống cho con người bởi quyền năng Chúa Thánh Thần.
Như vậy, đặc sủng hàm ý một ơn huệ đặc biệt, đôi khi còn phi
thường nữa, dưới đây sẽ nói rõ hơn.
Trong các Dụ Ngôn, Chúa Giêsu có nói về “những nén vàng” hay
“yến bạc” chủ giao cho tôi tớ, chúng ta có thể hiểu chúng là
như các đặc sủng hay ơn huệ đặc biệt được ban cho mỗi người.
(Mt.25:14-30; Lk.19:12-27)
Trong cuộc sống đời thường, chúng ta vẫn hay nói một người
có đặc sủng là vì họ có một đặc tính hoặc phẩm cách nào đó
lôi cuốn kẻ khác tới với con người của họ.
NHỮNG ƠN HUỆ CỦA THÁNH LINH CHIA RA
LÀM HAI LOẠI
1. Loại thứ nhất được coi là có mục đích thánh hoá bản thân
người thụ lãnh: đó là 7 ơn huệ được trình bày ở sách ngôn sứ
Ysaia 1:2-3: Ơn khôn ngoan, Ơn hiểu biết, Ơn Lo Liệu. Ơn Sức
Mạnh. Ơn Thông minh. Ơn Đạo Đức. Và Ơn kính sợ Thiên Chúa.
2. Loại thứ hai, chính xác gọi là đặc sủng, là những ơn huệ
đặc biệt Thiên Chúa ban xuống cho ta để phục vụ người khác
cũng như phục vụ Giáo Hội (1), ngoại trừ đặc sủng ‘Tiếng
Lạ’, vì thường ‘kẻ nói Tiếng Lạ thì tự xây dựng cho chính
mình’ (1Cor. 14:4).
Một số những đặc sủng ấy được Thánh Phaolồ liệt kê trong
1Cor.12. Đó là 9 đặc sủng: Lời khôn ngoan, lới hiểu biết
(hay lời trí tri), đức tin, ơn chữa lành, làm phép lạ, nói
tiên tri, ơn biện phân các thần khí, nói các tiếng lạ và
giải thích tiếng lạ. (1Cor.12:4-10)
NHỮNG TÁC VỤ CỦA THÁNH LINH
Thêm vào 9 đặc sủng này, có những đặc sủng thuộc thừa tác vụ
của các Tông đồ, ngôn sứ, tấn sĩ (thày dạy) và quản trị, mời
xem 1Cor.12-28-31. Những đặc sủng thuộc tác vụ khác được
liệt kê trong Rm. 12:6-8; Eph.4:11, và 1Ph 4:10-11. Tất cả
có chừng 20 đặc sủng và tác vụ.
Những ơn huệ đặc bịêt này đã được Tiên Tri Gioen tiên báo
(xem Ge.2:28), và được Chúa Giêsu hứa ban cho các kẻ tin:
“Đây là dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: Nhân Danh
Thầy họ sẽ trừ được quỉ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ
sẽ cầm được rắn, và dù có uống phải thuốc độc, thì cũng
chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì
những người này sẽ được mạnh khỏe.” (Mt.16:17-18). Lời hứa
này của Chúa đã được thực hiện trong ngày Lễ Ngũ Tuần ở
Giêrusalem. (Cv.2:4), và sau đó, khi Giáo Hội đã bành
trướng, thì ở Samaria (Cv.8:18), ở Xêdarê ( Cv 10:46), ở
Êphêsô (Cv.19:6), ở Rôma (Rm.12:6-8), ở Galáxia (Gl.3:5), và
một cách ấn tượng hơn cả là ở Côrintô (1Cor.12 và 14). Sự
lạm dụng những đặc sủng đã len lỏi vào Giáo đoàn Corintô
này, khiến Thánh Phaolô phải bàn giải cách sâu rộng trong
Thư thứ nhất gửi cho giáo đoàn ấy. Thánh Phaolô dạy rằng
những “ơn huệ thần thiêng” này xuất phát từ Chúa Thánh Linh,
Đấng linh động thân thể của Hội Thánh; và chức năng của
chúng thì đa dạng giống như những chức năng trong thân thể
con người vậy, và mặc dù được ban cho những cá nhân, nhưng
chủ đích là để mưu ích cho toàn cộng đồng: “Thần Khí tỏ mình
ra nơi mỗi người một cách, song là vì ích chung” (1Cor.12)
BẨY ƠN HUỆ NHẰM THÁNH HÓA THỤ LÃNH
NHÂN (Is.11:2-3)
1. Ơn Khôn Ngoan: Ơn này
giúp chúng ta dứt mình ra khỏi thế giới vật chất xa hoa phù
phiếm, để chúng ta thích thú và chỉ yêu chuộng những gì
thuộc về thiên đàng, ví dụ nó giúp chúng ta hiểu và sống
niềm vinh dự được Thiên Chúa là Cha chúng ta, và chúng ta là
con của Ngài, hoặc được Chúa Giêsu yêu chúng ta đến đỗi đã
chịu chết trên thập giá vì chúng ta, và mến thương tôi đến
nỗi luôn chờ đợi tôi hằng ngày trong phép Thánh Thể, ẩn mình
trong bánh và rượu để nuôi sống tôi mỗi ngày bằng tình yêu
của Ngài. (Ngợi khen Chúa !)
Thực tế có 3 thứ khôn ngoan là: khôn ngoan tự nhiên, khôn
ngoan do học tập, và khôn ngoan trực tiếp từ Thiên Chúa ban
do tác động đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Cả ba đều là ơn
huệ của Thiên Chúa, nhưng cái thứ ba được quí chuộng hơn cả,
đó là sự khôn ngoan của Đức Trinh Nữ Maria, Thánh Giuse,
Abraham, Moisen, các Thánh Tông Đồ, Thánh Phaolồ…
2. Ơn Hiểu Biết: là ơn
giúp chúng ta thấu hiểu các chân lý trong đạo theo mức cần
thiết cho cuộc đời chúng ta. Hiểu biết và sống giá trị của
việc cầu nguyện, của đức tin, đức cậy, đức mến; Hiểu biết và
sống với Ba Ngôi Thiên Chúa, Chúa Cha, Chúa Giêsu, Chúa
Thánh Thần, với tha nhân, các tạo vật của Thiên Chúa, và
biết những cạm bẫy của ma quỉ.
3. Ơn Lo Liệu: Đây là ơn
được sự tinh khôn siêu nhiên, cho ta khả năng thấy và chọn
lựa đúng đắn những cài gì đem đến vinh quang cho Thiên Chúa,
mưu ích cho phần rỗi chúng ta và cho Hội Thánh…
4. Ơn Sức Mạnh: Chúng ta
nhận lãnh sức mạnh và can đảm để vượt qua mọi chướng ngại và
khó khăn xảy tới trong lúc ta thi hành các bổn phận người có
đạo, giúp chúng ta chống trả với thế gian, ma quỉ và nhất là
những xu hướng xấu của xác thịt mình.
5. Ơn Thông Minh: Chỉ
cho chúng ta thấy con đường phải theo Chúa và những nguy
hiểm phải tránh để khỏi mất nước Thiên Đàng.
6. Ơn Đạo Đức: Ơn này
gây ra nơi chúng ta lòng tin tưởng thâm sâu vào Thiên Chúa
như đứa con thảo, và làm cho chúng ta chấp nhận trong vui vẻ
và yêu tất cả những gì liên quan đến việc phụng sự Thiên
Chúa, chẳng hạn như là cử hành phụng vụ, lãnh các bí tích,
viêc đọc kinh cầu nguyện…
7. Ơn Kính Sợ Thiên Chúa:
Giúp chúng ta biết tôn kính Chúa trên hết mọi sự, và làm cho
chúng ta sợ hãi tất cả những gì xúc phạm tới Ngài. Thiên
Chúa thì thánh thiện và đầy Lòng Thương Xót, nhưng Ngài cũng
là Đấng Công Chính: Nếu có sự ác quỉ trên Thiên Đàng, thì
chắc chắn Thiên Chúa không còn là Thiên Chúa. Sự “kính” và
“sợ” Thiên Chúa giống như cái chân ga và chân đạp thắng
trong chiếc xe. Nếu không có chân ga thì chiếc xe không thể
chạy được, nhưng cũng không ai dám chạy nếu không có thắng
xe.
Đặc sủng và nhân đức
Các ơn huệ của Chúa Thánh Thần là những sự tốt lành ở cấp
bậc cao hơn các nhân đức : Nhân đức giúp ta dễ dàng đi theo
sự thúc đẩy và hướng dẫn của lẽ phải, trong khi các ơn huệ
của Chúa Thánh Thần có chức năng làm cho ý chí chúng ta tuân
theo Thánh Ý, và ngoan ngoãn nghe theo những soi sáng của
Chúa Thánh Thần, giúp chúng ta chăm chú nghe tiếng nói của
Thiên Chúa, và khiến ta yêu thích những gì thuộc về Ngài, và
trung thành tuân theo ân sủng hiện tại Chúa ban xuống cho
đúng thời đúng buổi.
CHÍN ĐẶC SỦNG ĐỂ PHỤC VỤ, 1Cor.12
Chín đặc sủng của Chúa Thánh Thần được mô tả trong 1 Cor. 12
là những đặc sủng – cùng với sự “nghỉ ngơi trong Thần Khí”
và việc “trừ tà” – được sử dụng nhiều nhất bởi các thành
viên của Phong trào Canh Tân Đặc Sủng. Những đặc sủng này
dành để phục vụ cộng đoàn, ngoại trừ đặc sủng ‘tiếng lạ’, là
đặc sủng giúp riêng cho cá nhân (1 Cor.14:4). Chín đặc sủng
này được nhắc tới ba lần trong 1 Cor.12:8-12,28-30, còn đặc
sủng nói tiên tri, nói tiếng lạ và giải thích tiếng lạ, thì
đặc biệt được đề cập trong 1Cor.14.
Đoạn cuối của 1Cor.12, Thánh Phaolồ thúc hối chúng ta “hăm
hở tìm cho được những ơn huệ cao trọng hơn”, và cuối cùng
thánh nhân “bày tỏ cho chúng ta một con đường siêu vời”, sẽ
được trình bày ở chương 13 sau đó, tức là Đức mến / Bác ái.
CHÍN ĐẶC SỦNG TRONG 1COR.12 CÓ THỂ CHIA LÀM 3 HẠNG:
1. Đặc sủng về tâm trí
- Ơn khôn ngoan
- Ơn hiểu biết
- Ơn biện phân các thần khí
2. Đặc sủng về hành động
- Đặc sủng chữa lành
- Đặc sủng làm phép lạ
- Đặc sủng đức tin, (đức tin có thể rời núi, Mt 21:21;
Mc.11:22-23)
3. Đặc sủng về ngôn ngữ
- Đặc sủng tiên tri
- Đặc sủng tiếng lạ
- Đặc sủng giải thích tiếng lạ
1. Lời Khôn Ngoan (1Cor.12:8)
Lời khôn ngoan là ơn quan trọng nhất, cũng như ơn khôn ngoan
là ơn đầu trong 7 ơn Chúa Thánh Thần nhằm thánh hóa ta
(Is.11:2). Nó là một “lời”, một phát biểu, một sự diễn tả,
chúng ta phải nói mới có được. Đó là đặc sủng chính trong
thừa tác vụ của các Tông đồ, và cũng là tác vụ đầu tiên
trong các danh sách của 1Cor.12, 28,29.
Đa số những bài giảng của Chúa Giêsu đều là Lời Khôn Ngoan:
Bài giảng trên núi, diễn từ về bánh Hằng Sống, diễn từ trong
Bữa Tiệc Ly, bài giảng về thời tận cùng (Mt.5,24; Ga.6,13).
Tất cả những bài giảng này đều nhằm ban cho ta sự khôn
ngoan, để biết những mầu nhiệm (bí mật) của Thiên Chúa, giúp
chúng ta sống cuộc mạo hiểm tuyệt diệu của đời làm Kitô hữu.
(Ngợi khen Chúa!). Vì người có đặc sủng là như vậy, Kitô hữu
là như vậy, không hơn không kém. Bất cứ một nhà giảng thuyết
nào cũng phải được coi là người nói lời khôn ngoan.
2. Lời Hiểu Biết (lời trí tri) (1Cor.12:8)
Đây cũng là một ‘lời’, một phát biểu, chúng ta phải nói mới
có. Trong các sách Tin Mừng không mấy khi dùng tới nó nhưng
nó gây ấn tượng mạnh : Thiên Chúa ban cho một người được sự
hiểu biết đặc biệt về một cá nhân, hoặc về một hoàn cảnh nào
đó mà ngoài ra không có cách chi biết được, trừ phi Thiên
Chúa mặc khải cho.
Khi Chúa Giêsu nói với người phụ nữ xứ Samari: “Chị có tất
cả năm đời chồng rồi, và người đang sống với chị bây giờ
không phải chồng của chị’…Bề ngoài xem ra Chúa chẳng nói gì
nhiều, nhưng chị ta đã bị kích động cực độ, chị chạy về làng
xóm la lên: “Hãy tới mà coi có một người đã nói tất cả những
gì tôi đã làm, Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?” (Ga
4:18,28).
Khi Chúa Giêsu nói với ông Nathanen, “Trước khi Philiphê gọi
anh, anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh rồi.” Chúa nói
không nhiều nhưng Nathanen đã rất phấn khích nên đã đáp lại:
“Lạy Thầy, Thầy chính là Con Thiên Chúa, Thầy chính là vua
Israen!” (Ga.1:48-49)
Thánh Phêrô nói với vợ chồng Khanania và Xaphira một lời trí
tri khi họ làm một điều bề ngoài có vẻ tốt, đó là tặng một
số tiền cho Hội Thánh: “Khanania, sao anh lại để Satan xâm
chiếm lòng anh, khiến anh lừa dối Thánh Thần, mà giữ lại một
phần giá thửa đất? Khi đất còn đó thì nó chẳng còn là của
anh sao? Bán nó đi rồi thì anh chẳng có quyền giữ trọn số
tiền bán đó sao? Sao anh lại rắp tâm làm chuyện quấy? Anh đã
lừa dối không phải chúng tôi mà lừa dối Thiên Chúa.”…và kết
quả rất ấn tượng là cả hai vợ chồng ấy ngã xuống chết tức
khắc. (Cv. 5).
Trong một buổi họp của cộng đoàn đặc sủng Thánh Linh, lời
trí tri cũng tác động mạnh mẽ. Lời đó nói thế này: “Ở đây có
một người đạo Mô-mân (Mormon) nay được chữa lành cánh tay
trái !”. Khi anh ta ra ngoài, anh giơ được cánh tay trái đã
bị liệt từ 20 năm nay cho mọi người thấy, vừa la lớn vừa
khóc. Và rồi anh trở thành người Công Giáo. Trong buổi họp
nhóm Thánh Linh bữa đó, đấy là câu chuyện làm phấn khởi
nhất. Tất cả mọi người đều ca tụng Chúa với niềm vui không
tưởng tượng được.
3. Biện Phân Các Thần Khí (1Cor.12:10)
Đây là một đặc sủng quan trọng vì nó giúp chúng ta phân biệt
thần khí tốt với thần khí xấu, tiên tri thật với tiên tri
giả. Bởi vì Satan có thể giả dạng làm một thiên thần sáng
láng. Bởi vậy không ngạc nhiên gì khi bộ hạ của nó trá hình
thành những người thừa tác viên cứu độ. (2Cor.11:14-15).
Chúa Giêsu đã cảnh cáo chúng ta 3 lần khi những ngày cuối
tới sẽ có rất “nhiều” tiên tri giả, Kitô giả, và họ sẽ lừa
gạt được nhiều người. (Mt 24:4,11-24). Cũng coi 2Ph.2 và
2Tim.3.
Một thần khí xấu có thể tiêu diệt cả một nhóm cầu nguyện hay
nguyên cả một cộng đồng hay một giáo xứ Kitô giáo. Satan có
thể giả mạo bất cứ một đặc sủng nào của Chúa Thánh Thần…
Hiện nay có rất nhiều Giáo Hội Kitô giả, nhiều cuộc hiện ra
giả cho nên ơn biện phân các thần khí là đặc sủng rất cần
cho chúng ta ngày nay.
Lời khuyên của tôi là: Muốn biện phân thần khí một cách tốt
nhất thì nên nghe theo các chỉ dẫn của linh mục, của vị mục
tử và giám mục của bạn. Các ngài có thể sai, nhưng nếu bạn
nghe theo lời khuyên của các ngài, Thiên Chúa sẽ ở với bạn.
Các ngài sẽ phải trả giá cho những lầm lỗi đó, nhưng phần
bạn sẽ được yên lành, và Thiên Chúa sẽ chúc phúc cho bạn vì
bạn đã vâng lời.
4. Đặc Sủng Chữa Lành (1Cor.12:9)
Đây cũng là một đặc sủng đặc biệt. Mỗi Kitô hữu, mỗi kẻ tin
vào Đấng Kitô đều có đặc sủng này, như chính Chúa Giêsu Kitô
đã hứa: “Những dấu lạ này sẽ đi theo những ai có lòng tin…họ
đặt tay trên những người bệnh thì người này sẽ được lành.”
(Mc.16:17-18). Lời hứa này không chỉ dành cho những thánh
nhân, hay cho những ai quyền cao chức trọng trong Hội Thánh,
hay cho người uyên bác về Thánh Kinh hay thần học, nhưng cho
“những ai có lòng tin”, nghĩa là cho bất cứ một Kitô hữu
nào, tức là cho bạn đó. Như vậy từ nay khi bạn đi viếng
người bệnh, hãy đặt tay trên họ, nhân Danh Chúa Giêsu, và
bạn sẽ thấy phép lạ.
Bất kỳ Kitô hữu nào, hay linh mục nào đều có quyền năng chữa
lành hơn bất cứ một tên phù thủy hay thày pháp, bởi vì những
kẻ này hành động nhờ quyền phép ma quỉ; nhưng Kitô hữu nhờ
quyền năng của Thiên Chúa. Nhưng đáng tiếc là biết bao Kitô
Hữu không biết dùng quyền năng này. Bạn hãy thực hành đi,
hãy làm nhân Danh Chúa Giêsu Kitô.
Chúa Giêsu đã thi hành tác vụ quan trọng này trong thời sứ
vụ của Ngài. Đó là lý do tại sao ta thấy đoàn lũ đông đảo
dân chúng kéo nhau đi theo Chúa (Mt.4:23-25; Ga.6:2). Và mỗi
lần Chúa Giêsu sai các Tông Đồ đi giảng Chúa đều ban cho họ,
cho tất cả nhóm họ, lệnh truyền này: “Hãy trừ quỉ và chữa
lành cho người bệnh tật.” (Mt.10:1,8; Lc.9:1; 10:9,17;
Gc.5:15)… Và các môn đệ đã làm, và họ đã thành công lớn.
(Cv. 5:12-16; 8:6-8; 19:11-12).
Đặc sủng được gọi là “các ơn huệ” (số nhiều), bởi vì rất
nhiều Kitô hữu sẽ thực hành việc chữa lành, bởi vì có quá
nhiều bệnh tật cần được chữa lành, và vì có nhiều cách để
làm như: Đặt tay, xức dầu với dầu thánh, dùng nước phép,
dùng xương thánh, hoặc Thánh Giá hay chỉ cần cầu nguyện,
v.v… Có khi Chúa dùng các bác sĩ, y tá, nhà thương để chữa
lành. Vậy ta hãy cầu nguyện cho người bệnh nhân Danh Chúa
Giêsu, và hãy để cho Ngài làm việc chữa lành đó.
(Ngợi khen
Chúa !)
5. Đặc sủng làm Phép Lạ (1Cor.12:10)
Đây là đặc sủng khác với đặc sủng chữa lành ở chỗ nó không
tùy thuộc vào luật tự nhiên. Ngược lại, nó là một việc xảy
ra vượt trên sự tự nhiên, hoặc ngược với sự tự nhiên. Đây là
một “việc kỳ diệu”, một “việc quyền năng”, do quyền năng của
Thiên Chúa thực hiện vượt trên năng lực của bất cứ một định
luật vật lý nào có thể làm.
Chúa Giêsu đã cho 3 người chết sống lại, và trong lịch sử
của Đạo Công Giáo, có ghi nhận 400 người đã được ơn sống
lại. Chúa Giêsu đi bộ trên mặt nước hai lần. Trong lịch sử
Giáo Hội trên 100 người đã làm được vậy. Chúa Giêsu đã hóa
bánh ra nhiều, và cả trăm lần xảy ra giống vậy trong Hội
Thánh.
Một phép lạ vĩ đại nhất là hằng triệu người Kitô Hữu sống
trong yêu thương, an bình và hoan lạc, trong khi họ không có
gì cả ngoài tình yêu của Chúa. Bất kỳ ai trên trái đất đều
mong muốn được yêu thương, hoan lạc và an bình: từ ông Tổng
Thống, người tỷ phú, gái điếm, sì ke, thuốc phiện, những nhà
điền kinh…họ không ngừng nỗ lực để đoạt được những thứ đó,
nhưng đa số không thành công. Vậy mà hằng triệu người Kitô
Hữu như linh mục, tu sĩ, nữ tu, giáo dân…những kẻ trắng tay
không tiền bạc, không quyền thế, không danh vọng, không sang
giầu lại có triền miên hoan lạc sâu xa, và yêu thương, và an
bình trong cuộc sống. Và điều tuyệt diệu là sau khi họ có
những thứ đó trong cuộc đời này trên trái đất, họ sẽ có
thiên đàng vĩnh cửu đời sau. (Ngợi khen Chúa !)
6. Đặc sủng Đức Tin (1Cor.12:9)
Đây có thể nói là một đặc sủng quan trọng nhất trong các đặc
sủng về hành động: Đặc sủng đức tin có quyền năng rời núi
chuyển non được nói trong Mt.21:21: “Thầy bảo thật anh em,
nếu anh em tin và không chút nghi nan thì chẳng những anh em
làm được điều Thầy vừa làm cho cây vả, mà hơn nữa, anh em có
bảo núi này: “Rời chỗ này, nhào xuống biển!”, thì sự việc sẽ
xảy ra như thế.”
Đặc sủng đức tin sẽ làm những viêc này: Hãy rời núi hận thù,
ganh tỵ, thành kiến xấu với kẻ khác, phá thai v.v..Bắt đầu
một chương trình TV mới không có đồng xu dính túi; tìm kiếm
chỗ ở cho hằng triệu người không nhà như Mẹ Térésa, hoặc
giúp hằng triệu người giống như cơ quan từ thiện Hồng Thập
Tự (Red Cross), hoặc đi hoán cải hàng ngàn người ngoại đạo
Hinđu mà không cần thông thạo ngôn ngữ của họ giống như
Thánh Phanxicô Xaviê đã làm; hoặc vui vẻ thi hành chức
nghiệp nặng nhọc của mình; vui sống cuộc hôn nhân của mình,
hay đi làm các việc tông đồ …
Trong sách Tin Mừng có nói đến ba loại đức tin:
1. Đức tin cứu rỗi: để trở thành Kitô Hữu.
2. Hoa Trái của Đức Tin là để rèn nhân cách, lòng trung
thành, trung tín. (Gl 5:23-23)
3. Đặc sủng đức tin, là lòng tin mạnh đến nỗi có quyền lực
dời núi, chuyển non được.
Trong loại đức tin được coi là đặc sủng này, sách Tin Mừng
trình bày cho thấy: người thì có đức tin, kẻ thì yếu tin, và
kẻ thì mạnh tin.
1. Người có đức tin: là như người phong hủi, người mù, người
bại liệt…đây chỉ là những người bình dân, và họ đã được chữa
lành.
2. Người yếu tin: Thật kỳ lạ, trong số này thấy có các Tông
Đồ, vì nhịều lần Chúa bảo họ là “những kẻ hèn tin” (Mt.8:26,
14:31, 17:20, Lk 8:25)…Một lần khác Chúa Giêsu bảo các môn
đệ: “Tại anh em kém tin! Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có
lòng tin lớn bằng hạt cải thôi thì dù anh em có bảo núi này:
“Rời khỏi đây, qua bên kia!: nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có
gì mà anh em không làm được.” (Mt.17:20)…Mà hạt cải kia nhỏ
bé như phấn bột, chỉ cần một dúm thôi là có cả hàng ngàn hạt
giống.
3. Người mạnh tin: Cũng thật kỳ lạ vì chỉ thấy có hai người
mà Chúa Giêsu bảo là có đức tin mạnh mẽ, ấy là hai người
ngoại giáo, không phải người Do Thái: một người là viên Đại
đội trưởng Rôma ngoại giáo trong Mt.8:10, và người thứ hai
là đàn bà xứ Ca-na-an sống trong vùng ngoại biên của Israen
là Tia và Sidôn nói ở Mt. 15:28.
Chúng ta chỉ còn cách làm như các Tông Đồ: “Các ngài nói với
Chúa: “Lạy Thày xin hãy tăng đức tin cho chúng con”…và bạn
biết Chúa trả lời sao rồi (xem Lc.17:5-6)
7. Đặc sủng Tiên Tri (1Cor.12:10,
và chương 14)
Đặc sủng Tiên Tri thật quan trọng, đã được nhắc tới 22 lần
trong 1Cor.12-14 cho mọi Kitô hữu ! Khi lãnh Bí Tích Rửa
Tội, mỗi người Công Giáo được xưng nhận là tiên tri, tư tế
và vua. Rồi lúc lãnh bí tích Thêm Sức, họ được củng cố trong
chức vị làm tiên tri, làm tư tế và làm vua.
(Xin xem thêm: Các Bổn phận của Kitô
hữu).
Linh mục là người thưa với Thiên Chúa về chuyện của con
người, và cũng là người cầu nguyện với Thiên Chúa cho con
người…Tiên tri là người nói với dân chúng về Thiên Chúa,
hoặc nói những lời Thiên Chúa cho dân chúng biết. Nói tóm,
ông là phát ngôn viên của Thiên Chúa cho con người.
Đây là một đặc sủng nhờ đó, qua một người, Thiên Chúa nói
hay truyền đạt một sứ điệp cho một cá nhân hay cho toàn thể
cộng đồng Kitô giáo. Chúa dùng một ai đó để phát biểu những
ý tưởng của Ngài về tình trạng hiện tại, hoặc một dự tính
của Ngài cho tương lai. Hoặc điều gì Ngài muốn cho họ biết
hay cần phải lưu tâm. Đặc sủng tiên tri không ưu tiên và
nhất thiết là báo trước những chuyện sẽ xảy ra trong tương
lai.
Chức vụ tiên tri là để xây dựng, chỉ giáo, ủi an và khích lệ
cho các tín hữu của một giáo đoàn (1Cor.14:3)
Thánh Phaolồ bảo rằng một cá nhân trong giáo đoàn có thể nói
tiên tri bằng các ngôn ngữ (các tiếng mới lạ) và cần được
giải thích bởi một ai đó được đặc sủng giải thích này
(1Cor.14:5)
Lưu ý: Chúng tôi đã nhắc nhở trong lần nói về đặc sủng biện
phân các thần khí rằng trong những thời cuối hết sẽ có nhiều
tiên tri giả, thành thử cần phải thận trọng và sử dụng việc
biện phân các thần khí.
8. Đặc sủng Tiếng Lạ gồm nhiều loại
(1Cor.12:10, và chương 14)
Đây là một đặc sủng quan trọng, được nhắc tới 57 lần trong
Tân Ước. Và là một đặc sủng mà mỗi Kitô hữu được có, như
Chúa Giêsu phán: “Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có
lòng tin.…họ sẽ nói được những Tiếng mới Lạ” (Mc 16:17)…
“Cho những ai có lòng tin”, tức là cho tất cả mọi Kitô Hữu!
Các bạn có tin vào Chúa Giêsu không? Còn nữa: Đây là một đặc
sủng duy nhất trong 9 đặc sủng phục vụ không phải chỉ để
giúp cho tha nhân mà để “giúp cho chính mình” xây dựng thêm
vững mạnh (1Cor.14:4), thật vậy, chúng ta tất cả thường rất
cần xây dựng cho chính bản thân chúng ta.
Ít nhất có hai loại đặc sủng về tiếng lạ:
1. Loại đặc sủng đầu tiên: được mô tả trong 4 câu của sách
Công Vụ Tông Đồ 2:4,6,8,11: “Họ bắt đầu nói các thứ tiếng
khác tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho”, “Dân chúng kinh
ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình”…
Mà những người môn đệ đang nói đó tất cả đều là người
Galilê. Phép lạ vĩ đại của ngày Lễ Ngũ Tuần đã không bao giờ
xảy ra lại nữa trong Giáo Hội, có không vậy? Ngôn ngữ của
niềm ‘vui’ thì ai mà chẳng hiểu. Khi bạn yêu thương một
người nào, họ sẽ hiểu bạn bất kể nói tiếng Đức, tiếng Nga,
tiếng Tầu hay tiếng Nhật…Ngôn ngữ “niềm vui”, “yêu thương”,
và “bình an” thì ai cũng hiểu, và có thể nói rằng đó là
những phép lạ vĩ đại nhất của Kitô Hữu trong mọi thời đại.
2. Loại đặc sủng thứ hai, ‘nói tiếng lạ’, là một trong 9 đặc
sủng của Chúa Thánh Thần được nêu ra đến 3 lần trong
1Cor.12:10,28,30, và được giải thích lần nữa trong
1Cor.14:1-33, ở đó đặc sủng ‘nói tiếng lạ’ hay ‘cầu nguyện
bằng tiếng lạ’ được nhắc đến 12 lần.
‘Nói tiếng lạ’ là thế nào ?
Lối ‘Nói tiếng lạ’ này tiếng Hi Lạp gọi là ‘glossolalia’ hay
‘bập bẹ như tiếng trẻ thơ’: không ai nghe ra cái gì. Bề
ngoài xem ra nó ngược với chuyện xảy ra trong ngày Lễ Ngũ
Tuần, nhưng thực tế cũng giống nhau, bởi vì đó là thứ tiếng
của niềm vui, yêu thương và an bình mà bất cứ ai cũng có thể
cảm nhận được.
Tôi có một bịnh nhân trúng một lô độc đắc $15 triệu. Cả nhà
la lên vì vui mừng. Không cần một lời diễn tả đặc biệt nào
cả, mà ai cũng hiểu được. Nói tiếng lạ cũng na ná như vậy.
Ngày mà bạn sống như một người con của Chúa, đó là ngày bạn
trúng số 1000 triệu bạc rồi, bởi vì người Cha của bạn là tỷ
tỷ phú, Ngài có hàng ngàn triệu cho bạn, và thế là bạn sẽ
hét lên vì vui mừng, không cần một lời nào rõ ràng cả, đây
là những lời bập bẹ, ngọng nghịu như những lời của bé thơ,
nhưng ai cũng hiểu nó muốn nói gì.
Hôm nào bạn nói được ‘tiếng lạ’ là ngày bạn nhận thức thấy
tội lỗi đáng ghê sợ chừng nào. Tôi thấy trên TV một người
đàn bà có đứa con nhỏ 8 tuổi bị vùi trong một trận tuyết lở
ở Columbia. Bà ta không nói câu nào, nhưng sự đau khổ sâu
thẳm của bà ai ai cũng có thể hiểu được và còn đồng cảm nữa.
Tội lỗi là một sự cố khủng khiếp có thể xảy ra trong đời bạn
hay đời con bạn, và ngày nào bạn nhận thức được điều ấy, thì
không một lời nào có thể diễn tả được, mà chỉ có những tiếng
rên la trong sầu muộn khổ đau, hoặc những tiếng khóc như trẻ
thơ mà ai cũng hiểu.
Thánh Phaolô đã nêu ra cả hai loại: “nói tiếng lạ’ và ‘cầu
nguyện bằng tiếng lạ’ (1Cor.14:14-15).
Các người Đặc sủng Công giáo tin tưởng rằng Thiên Chúa ban
ơn cầu nguyện bằng tiếng lạ cho tất cả những ai kiếm tìm cái
đặc sủng ấy. Người nói được thứ tiếng mới lạ đó, nói để chúc
tụng Chúa, hay ăn năn sám hối, mặc dù cá nhân họ không hiểu
mình đang nói gì, là bởi vì Thần Khí Thiên Chúa cầu nguyện
trong trái tim họ. Thánh Phaolồ đã nói: “Có Thần Khí giúp đỡ
chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu
nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay
nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên xiết khôn tả. Và
Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói
gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng
ý Thiên Chúa.” (Rm.8:26-27).
Mặt khác, những ai nói tiếng lạ phải cầu xin cho được ơn
‘Giải Thích Tiếng Lạ’, để cả cộng đoàn nhờ đó mà được hưởng
ích lợi. Trong thực tế, nói tiếng lạ và giải thích tiếng lạ
cũng tương đương như nói tiên tri. Xem 1Cor.14:13,27-28.
9. Giải thích tiếng lạ (1Cor.12:10, và chương 14)
Giải thích tiếng lạ không phải là thông dịch điều mà tiếng
lạ ấy nói, song là giải nghĩa. Thí dụ, một người cầu nguyện
bằng tiếng lạ trong hai phút, còn người giải thích sứ điệp
của tiếng lạ đó có thể chỉ làm trong vòng 10 giây.
Khi một người nói tiếng lạ hay cầu nguyện bằng tiếng lạ
trong một cuộc nhóm họp thì cũng nên có một người nào trong
nhóm có thể giải thích tiếng lạ để xây dựng Giáo Hội. Nếu
không, việc cầu nguyện bằng tiếng lạ chỉ xây dựng (= mưu
ích) cho chính mình thôi (1Cor.14:27-28). Chúng tôi đã nhắc
lại trên đây những lời Thánh Phaolồ nói rằng nói tiếng lạ và
giải thích tiếng lạ thì ngang với lời tiên tri.
TRỪ QUỶ (Mc.16:17, Mt 10:1)
Đây là một đặc sủng khác nữa của Chúa Thánh Thần, nó không
có trong danh sách của Thánh Phaolồ, nhưng trong lời hứa của
chính Chúa Giêsu, và được ban cho bất cứ Kitô Hữu nào: “Đây
là dấu lạ đi theo bất cứ ai tin : Nhân danh Ta họ sẽ trừ
được quỉ” (Mc.16:17)…Nó là dấu lạ thứ nhất trong 5 dấu lạ đi
theo tất cả những Kitô Hữu, “cho bất cứ ai tin vào Chúa
Giêsu”! ngay cả người kém cỏi không biết đọc biết viết,
chính Chúa Giêsu đã nói như thế.
Chúa Giêsu đã trừ nhiều quỉ, và mổi lần Ngài sai các môn đệ
đi rao giảng Tin Mừng, Ngài ban cho họ quyền năng trừ quỉ.
“Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông
quyền trên các thần ô uế” (Mt.10:1, Lc.9:1) và ‘Nhóm 72 môn
đệ trở về, hớn hở nói: “Thưa Thày, nghe đến Danh Thầy, cả ma
quỉ cũng phải khuất phục chúng con.” (Lc.10:17)
Bất cứ Kitô Hữu nào cũng có quyền năng xua trừ những loại
quỉ ganh tỵ, kiêu ngạo. ghen tương, rượu chè, thuốc phiện,
tà dâm…Khi bạn gặp một người tà giáo, đừng phí thời giờ
tranh cãi với họ, chỉ việc trừ tà lạc giáo ra khỏi họ nhân
Danh Chúa Giêsu, và bạn sẽ thấy chuyện lạ xảy ra.
Chúa Giêsu là Đấng quyền năng vạn lần mạnh hơn tất cả những
quỉ thần hợp lại. Và một Kitô Hữu, nhất lại là linh mục hay
nữ tu, thì nhờ Danh Chúa Giêsu, họ sẽ có quyền năng mạnh hơn
tất cả những phù thủy của tà thần hợp lại. Vần đề là đa số
những Kitô Hữu đã không sử dụng cái quyền năng họ có sẵn đó.
Nhân Danh Chúa Giêsu, hãy dùng nó đi hỡi các bạn, để làm
sáng danh Chúa Cha, và để mưu ích cho chúng ta, và hữu ích
cho Giáo Hội.
Có ba loại ảnh hưởng của ma quỉ:
1. Sự cám dỗ: Đây là điều xảy ra cho tất cả mọi người, ngay
cả Chúa Giêsu khi Ngài ăn chay cầu nguyện trong 40 ngày. Bạn
và bạn bè của bạn cũng sẽ bị cám dỗ, nhất là những khi bạn
cầu nguyện và ăn chay lâu dài như Chúa Giêsu. (Mt.4)
2. Sự ám ảnh, sự thôi thúc không kềm chế được, sự ức chế.
Đây là những điều thường xảy ra, nó thôi thúc làm những việc
như thủ dâm, trộm cắp, nói láo, làm tổn thương người thân
hay bạn bè, đồng tình luyến ái, rượu chè, ma túy, những xung
động vô lý, gây thất vọng..v.v… Đây là tình huống một người
bị những kích thích không kềm chế nổi, xúi họ thực hiện một
cái gì đó mà họ biết là sai trái hay vô lý; hoặc khi khác đó
là một nỗi ám ảnh không thể rũ bỏ về một tư tưởng, một hình
ảnh, một cảm xúc mà họ biết đó là sai trái. Không giống như
khi bị quỉ ám (hay quỉ nhập), vì người này vẫn có thể điều
khiển ý muốn, vẫn có khả năng làm những hành động cố ý và họ
nhận thức được là họ đang làm điều phải hay trái.
3. Quỉ nhập: Đây là trình trạng con người bị quỉ chiếm hữu
mất quyền tự chủ, nên họ không có khả năng suy nghĩ hay hành
động cách cố tình và hữu ý được nữa. Đa số những người tà
giáo, và những người có dính líu với ma thuật huyền bí rơi
vào tai hoạ khủng khiếp này. Ở trường hợp đây, những người
này không thể nhận thức được mình đang sai trái. Đôi lúc,
bản ngã của họ bị thay thế bởi một hữu thể xa lạ xâm nhập
vào trong họ, làm chủ trong họ, nhất là khi đề cập tới một
vấn đề đặc thù nào đó. Thông thường họ rất bình thường trừ
phi bạn đụng chạm đến vấn đề đặc thù đó… Những lúc khác, tuy
không thường xuyên, họ có thể để lộ những triệu chứng kỳ
quái, chẳng hạn như cách xử sự cuồng trí, cách ăn nói không
mạch lạc, những điệu bộ thể xác không kiểm soát được, có
những động tác sức mạnh thể xác phi thường có thể đưa đến sự
tự hủy hoại hay làm hại kẻ khác.. v…v..
Trong mọi trường hợp, phải cân nhắc kỹ càng xem những triệu
chứng hoặc hành động đó có thể do những yếu tố bệnh lý tự
nhiên hơn là do quyền lực siêu phàm của tà ma.
Chúa Giêsu đã trục xuất nhiều quỉ dữ, điều này đã được ghi
chép trong Phúc Âm Thánh Maccô. Còn các chuyện tà ma được
thuật trong Công vụ Tông Đồ 16:16 và 19:13-19 thì liên quan
tới những người không phải là Kitô Hữu.
Việc trừ quỉ chính thức trong Giáo Hội rất ít khi xảy ra, và
việc trừ quỉ ấy thường do các linh mục thi hành, khi đã được
ủy nhiệm của Giám Mục sở tại, và sau khi đã tiến hành những
cuộc tra cứu rất kỹ lưỡng cả về hai mặt tâm lý lẫn thể lý,
để loại bỏ mọi nguyên nhân tự nhiên có thể đã là nguyên cớ
gây ra vấn đề ấy. Kể từ năm 1972, Giáo Hội tuyên bố rằng, sẽ
không còn truyền chức thánh thứ tư là chức trừ quỉ nữa.
CON ĐƯỜNG SIÊU VỜI CỦA THÁNH PHAOLÔ (1Cor.13)
“Tôi sẽ chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả” (1Cor
12:31). Sau khi đã bàn hết 9 đặc sủng, Thánh Phaolồ chỉ cho
chúng ta thấy cái mà ông gọi là “con đường trổi vượt” trong
câu cuối cùng của 1Cor.12:31. Và tiếp theo đó trong 1Cor 13
ông mô tả “con đường trổi vượt “ ấy như sau:
Con đường trổi vượt hơn cả là “Đức mến”, bởi vì “Nếu tôi có
nói được các thứ tiếng của loài người và của các Thiên Thần
đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi chẳng khác chi thanh la
phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng. Giả như tôi được ơn tiên
tri, và biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có
được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non mà không có đức
mến thì tôi cũng chẳng là gì.”
Câu 3 gây cho tôi một ấn tượng sâu sắc hơn cả là: “Giả như
tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân
xác tôi để chịu thiêu đốt mà không có đức mến thì cũng chẳng
ích gì cho tôi.” Thi hành các điều ấy không phải là yêu mến.
Hãy suy nghĩ điều này: Nếu bạn dùng hết tiền bạc để cho vợ
con bạn cơm ăn áo mặc, nhưng rồi họ xuống địa ngục bởi vì
bạn đã dạy họ con đường xấu qua cuộc đời và những hành động
của bạn. Khi bạn chết rồi, vợ con bạn hét lên từ địa ngục:
“Không được để cho cha tôi hay chồng tôi vô nước Thiên Đàng.
Chúng tôi đang ở dưới địa ngục bởi vì ông ta đã lừa dối
chúng tôi ! Bằng đồng tiền và những ảnh hưởng của ông, ông
đã đẩy chúng tôi xuống hỏa ngục.” Điểm quan trọng nhất của
tình yêu là làm sao giúp cho những người thân của mình, bạn
bè mình về thiên đàng, hay giúp họ trở nên một người rao
giảng Tin Mừng, một người cộng tác với Chúa Giêsu trong công
cuộc cứu chuộc .
Những lời Chúa Giêsu gây ấn tượng sâu xa hơn nữa cho tôi, đó
là Ngài nói: “Nhiều người” dùng Danh Ta để trừ quỉ và đã
nhân Danh của Ta làm phép lạ, nhưng Ta sẽ tuyên bố với họ…
Xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác! (mời đọc
Mt.7:21-23) (2). ‘Nhiều người’ sẽ bị xuống hỏa ngục…Tôi cầu
xin sao cho tôi và bạn sẽ không ở trong số ‘nhiều’ đó.
Đức Mến hay Bác Ái là gì? Đó là làm những điều Chúa Giêsu đã
làm và dạy chúng ta. Muốn biết lòng mến là thế nào, hãy nhìn
lên cây Thánh Giá trên đồi Canvê, và đọc trong Mt.25:31-46
và Mt.5:38-48, và ở đây 1Cor.13, chương Đức Mến của thánh
Phaolồ, được đặt chen vào giữa hai chương về đặc sủng.
Thánh Augustinô nói: “Bạn có muốn trở thành Thiên Chúa
không? Vậy thì hãy yêu đi, bởi vì Thiên Chúa là Tình yêu.
(1Ga.4:8,16). Bạn có muốn có lòng yêu mến không? Hãy trở nên
Thiên Chúa. Hãy có Chúa Giêsu trong tim bạn và sống với tình
trạng vinh hiển ấy trong từng giây phút trong ngày, bởi vì
đó là cốt tủy của việc làm người Công Giáo. “Tôi không còn
là tôi nữa mà Chúa Kitô sống trong tôi” (Gal.2:20), và chỉ
có cách đó mới trở thành yêu thương được, bởi vì Thiên Chúa
là Tình Yêu.
NGHỈ NGƠI TRONG THẦN KHÍ
Trong những buổi họp của nhóm Đặc sủng Thánh Linh Công giáo,
thường xảy ra một ơn huệ được gọi là: “Nghỉ ngơi trong Thần
Khí”. Thánh Térésa Avila thường gọi là: ‘Bay trong Thánh
Thần’, và Thánh nhân đã được hưởng ơn ấy nhiều lần như chúng
ta đọc thấy trong tiểu sử của Người.
Hiện tượng ấy xảy ra khi một người được (đặt tay) cầu nguyện
cho thì người đó té xuống (và nằm nghỉ trong Thần Khí). Lần
đầu tiên tôi dự một cuộc cầu nguyện của nhóm Thánh Linh.
Buổi nói chuyện bữa đó nói về Thánh Thể. Cuối buổi nói
chuyện, một người bạn của tôi nói: Bây giờ chúng ta đặt tay
cầu nguyện cho những người này, cầu xin Chúa cho họ hiểu rõ
và sống bí tích vinh quang này.” Đối với tôi, không có khó
khăn gì bởi vì tôi thường dành nhiều giờ cầu nguyện cho
người ta, ngoại trừ việc đặt tay cầu nguyện thì tôi chưa làm
cho một ai cả. Và bữa đó, tôi đã đặt tay cầu nguyện cho một
người đàn ông cao 7 feet. Tôi dự tính nói rằng: “Lạy Chúa
Thánh Thần, xin hãy giúp người này hiểu và sống thực tại
vinh quang của phép Thánh Thể”…nhưng tôi chỉ mới nói tới chữ
‘Thánh’ thì cả con người cao lớn 7 feet của ông ta té ngửa
xuống đất, đầu đập mạnh trên sàn nhà…Tôi nghĩ chắc ông ta
thế nào cũng bị đau. Bạn tôi nói: “Đừng lo, ông ta đang nghỉ
ngơi trong Thần Khí”. Nhưng tôi là một bác sĩ, nên tôi đã
ngồi kề bên ông cho đến khi biết chắc ông không hề hấn gì
nơi đầu ông mới thôi. Ngày sau đó tôi đã gọi cho ông ta, và
tuần sau đó tôi cũng gọi để biết rằng ông được an lành,
không sao cả.
Trong suốt 30 năm nay, có lẽ cả ngàn người nam nữ đã được ơn
Nghỉ ngơi trong Thần Khí khi tôi đặt tay cầu nguyện cho họ.
Nhưng từ lần đầu tiên đó, khi cầu nguyện cho họ, tôi luôn
luôn đặt tay trái mình phía sau đầu họ trong trường hợp họ
té xuống. Hoặc chắc ăn hơn, tôi nhờ một người nào đó đứng
đằng sau đỡ lấy họ nếu họ té. Tôi không muốn thực hành nghề
bác sĩ trong những buổi họp Thánh Linh. Chúa ơi, xin tha thứ
cho con, vì đức tin của con còn yếu kém.
Tôi cũng hỏi nhiều người về cảm giác của họ khi họ nghỉ ngơi
trong Thần Khí, và thường thường họ cho biết cảm giác đó
giống như Thánh Nữ Têrêsa đã mô tả trong cuộc đời của Người,
trong khi họ lại chưa bao giờ đọc gì về cuộc đời của thánh
nữ cả. Họ nói với tôi cảm giác lúc ấy giống như được ở trên
thiên đàng, bay bổng trên không, tràn đầy niềm vui và an
bình, một phút mà có cảm giác như sống cả ngàn năm, trí óc
họ vẫn ý thức mọi chuyện. Đó luôn mãi là một kinh nghiệm huy
hoàng không thể quên được. Có trường hợp người ta khóc lóc
rất thảm thiết vì lúc đó họ cảm nhận được sự khủng khiếp của
tội lỗi. Còn người khác thì cảm thấy như có ai đó kéo cái
cẳng chân bị đau đã hơn 20 năm, và lúc đứng dậy thì không
còn đau gì nữa. Hoặc người khác thì bịnh suyễn biến mất,
hoặc ngực đau cũng tan đi, hay máu đang chảy ra được ngưng
lại tức thì…và những chứng đó không bao giờ trở lại, cho dù
việc chảy máu ấy đã xảy ra nhiều năm rồi.
Tôi cũng đã được kinh nghiệm sự nghỉ ngơi đó lần đầu tiên,
trong ngày lễ Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor, Người cầu
nguyện cho tôi là một người đàn bà khiêm tốn, và chị này
cũng là lần đầu tiên dự nhóm…Trong khi chị cầu nguyện cho
tôi thì tôi cũng té xấp mặt xuống đất. Ý nghĩ đầu tiên của
tôi là: cái kính đeo mắt của tôi! Nhưng niềm vui không thể
giải thích được và cái cảm giác nhẹ nhàng vô trọng lượng
trong con người nó làm cho tôi quên bẳng đi cái mắt kính.
Khi thời gian nghỉ ngơi đó qua đi, ngay lập tức việc đầu
tiên của tôi là nhìn xem cặp mắt kính: nó không bị gì cả.
Ngợi khen Chúa.
Sự nghỉ ngơi trong Thần Khí cũng xãy ra trong Thánh Kinh:
Tiên Tri Đanien đã thường được điều này, hầu như trong mỗi
lần ông được nhận một mạc khải, thì ông nằm giống như chết
trong nhiều ngày. Và người đoạt giải vô địch chuyện đó trong
Thánh Kinh là Tiên Tri Ezekien, ông té đi té lại mỗi lần
thấy vinh quang Thiên Chúa. Trong sách Diễm Ca của vua
Salômôn có bài, Bạn Tình Tôi: “Xin cho tôi bánh nho để tôi
tìm lại sức, cho tôi táo để tôi được bồi dưỡng, bởi vì tôi
đã ốm tương tư.” (Dc 2:5).
GIƠ TAY LÊN CAO
Những người đặc sủng Thánh Linh khi chúc tụng Chúa hoặc xin
ơn tha thứ thường giơ hai tay lên cao. Cảnh giơ tay lên cầu
nguyện được nhắc tới rất nhiều trong Thánh Kinh. (1Tim.2:8,
Is.1:15, Psalm 28:2, 47:2, 63:5, 77:3, 134:2, Ac.3:41)
Tôi tin rằng đây cũng là một ơn huệ. Nhưng nó đã là một vấn
đề khổ sở đối với tôi. Ba mươi năm về trước, khi tôi bắt đầu
làm việc với nhóm Canh Tân Đặc Sủng, đa số những lần nhóm
họp như vậy tôi là người nói chuyện (thuyết trình). Tất cả
những người trong ban lãnh đạo đều là bạn bè của tôi, gồm cả
linh mục và giáo dân. Cả chục lần như một, họ đều bảo tôi
giơ tay lên khi chúc tụng Chúa, nhưng tôi không làm được.
Tôi chúc tụng Chúa trong hân hoan và thường xuyên, nhưng
không thể giơ tay lên được, bởi vì tôi cảm thầy kỳ cục hay
vì tự cao không biết? Khoảng một năm sau, trong một Thánh
Lễ, vị linh mục chủ tế đột nhiên nói: “Chúng ta hãy cầu
nguyện” và ngài giơ hai tay lên… Tôi đã thấy điều này cả
trăm lần, mỗi lần tôi đi dự thánh lễ. Nhưng thình lình, tôi
chợt cảm nhận ra một điều: vị linh mục đang nói với tôi là
hãy cầu nguyện với ngài, và cầu nguyện theo như cách ngài
đang làm…Ngay lập tức, tôi nâng hai cánh tay tôi lên cao với
ngài và cầu nguyện với ngài. Ngợi khen Chúa!
Từ ngày đó đã 30 năm, mỗi lần vị linh mục giang tay ra cầu
nguyện thì tôi cũng làm như vậy. Đa số những thành viên nhóm
Thánh Linh không làm vậy trong Thánh Lễ nhưng nhiều bạn bè
của tôi đã làm như vậy, nhất là trong lúc đọc Kinh Lạy
Cha…vì việc đó rất phù hợp với Kinh Thánh, và nếu linh mục
làm vậy, và ngài xin chúng ta làm như ngài thì tại sao không
làm chứ? Còn một điều nữa: nếu bạn muốn lôi kéo người ta chú
ý, bạn không cần mặc quần áo sang trọng, đeo nữ trang đắt
giá trong Thánh Lễ, chỉ cần giơ hai tay lên cùng một lúc với
linh mục chủ tế, mọi người sẽ đưa mắt nhìn bạn ngay… Lúc
đầu, tôi cảm thấy hơi mắc cỡ, nhưng tôi thấy đó là điều nên
làm, và các linh mục của giáo xứ tôi chưa bao giờ bảo tôi
đừng làm, hoặc các linh mục trong các giáo xứ khác cũng vậy.
Thực ra chưa một người nào nói gì với tôi cả, hơn nữa, thành
thực mà nói, làm như vậy tôi cảm thấy sốt sắng hơn, và cùng
đồng điệu với linh mục chủ tế hơn.
Nếu bạn để ý, mỗi lần vị chủ tế cầu nguyện với Đức Chúa Cha,
ngài đều giang hai tay lên. Khi ngài cầu nguyện cùng Chúa
Giêsu, ngài cúi đầu. Và với Chúa Thánh Thần, ngài chắp hai
tay trước ngực, giống như nhiều bức ảnh của Đức Trinh Nữ
Maria. Bởi vì thánh lễ là bởi quyền năng Chúa Thánh Thần
thực hiện, cho nên tham dự Thánh Lễ cách năng động, thì vị
chủ tế, và bạn, và tôi, chúng ta nên luôn để tay trên ngực,
chứ không phải để thõng tay xuống như khi chúng ta coi những
màn trình diễn trên sân khấu.
CÁC THỊ NHÂN
Mọi người Công Giáo đều biết những cuộc hiện ra ở Fatima, Lộ
Đức… Đó cũng là ơn huệ của Chúa Thánh Linh. Đây không phải
là sự kiện bình thường trong phong trào Canh Tân Đặc Sủng,
nhưng đó những sự kiện xảy ra trong Giáo Hội, đặc biệt là
trong thời nay. Từ năm 1900 tới 1960 đã có 25 báo cáo về
những cuộc hiện ra được chuyển về Vatican. Từ năm 1960 tới
nay, có trên 3000 báo cáo về những cuộc hiện ra chuyển về
Vatican từ hầu hết mọi dân mọi nước trên mọi lục địa. Quả là
một trận mưa ơn tràn trề. Ngợi khen Chúa.
(02-04-2007)
Chú thích :
(1) Chính vì những đặc sủng thường có tính cách xây dựng (=
mưu ích) cho cộng đoàn, cho Giáo Hội, mà người ta cũng gọi
là “đoàn sủng”. Và Công Đồng Vatican II đã chính thức xác
nhận các đặc sủng, khi tuyên bố trong Hiến Chế Lumen Gentium
(“Ánh sáng muôn dân”) số 12 rằng: “Chúa Thánh Thần còn ban
phát các ân sủng đặc biệt (1Cor 12.11), khiến người lãnh
nhận các ân sủng ấy có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các
công việc và nhiệm vụ khác nhau hầu mưu ích cho việc canh
tân, xây dựng và phát triển Giáo Hội như lời chép rằng:
“Thánh Thần hiển thị trong mỗi người hầu đem lại lợi ích
chung” (1Cor 12.7).
(2) Ý Chúa muốn nói là chúng ta có thể có và sử dụng các đặc
sủng, song không phải vì thế mà ta là người thánh thiện để
được vào thiên đàng. Chỉ những ai thi hành ý muốn của Chúa
Cha mới được vào thiên đàng mà thôi.
|