|
SƠ LƯỢC LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNG
CÁC DÒNG TU - TU HỘI - TU ĐOÀN TRONG GIÁO TỈNH HÀ NỘI
(Báo cáo tại Đại hội Tu sĩ Toàn quốc lần II)
LM Phêrô Nguyễn Văn Khải DCCT
1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ CÁC DÒNG TU (1)
Ở MIỀN BẮC
1.1. THỜI BẢO HỘ (2) (1533-1659)
Năm 1533, Trà Lũ, Ninh Cường, Quần Anh-
những làng đầu tiên của Miền Bắc nay thuộc Giáo phận Bùi
Chu- đã ghi dấu bước chân của nhà truyền giáo Inêkhu. Gần 60
năm sau, năm 1590 phái đoàn của cha Ordonez de Cevallos, một
thừa sai thích phiêu lưu mạo hiểm, đang chu du thiên hạ, thì
bị bão đánh dạt vào Đàng Ngoài và ngài bắt đầu rao giảng.
Công cuộc rao giảng đầy Thánh Thần và
quyền năng của cha Cevallos đã mau chóng lập nên một
xóm đạo trù phú và một tu viện sinh động bên bờ sông Chu thơ
mộng của xứ Thanh. Ngày 26.06.1591 ngài đã cử hành lễ khánh
thành tu viện và cũng là lễ khấn lần đầu cho các nữ tu của
hội dòng mang tên là Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội với 51 thành
viên mà mà người đứng đầu là công chúa Mai Hoa, khai mạc đời
sống tu trì của nữ giới trong Giáo Hội Việt Nam.
Năm 1627, cha Alexandre De Rhodes, vị thừa
sai lỗi lạc của Dòng Tên, đã đến Đàng Ngoài lần thứ nhất và
theo ngài là nhiều thừa sai Dòng Tên khác. Miền Bắc có may
mắn đón nhận sự hiện diện của một dòng tu quốc tế năng động
nhất trong Hội Thánh đương thời.
Các thừa sai Dòng Tên đã khai mở một phong
trào đón nhận Tin mừng rộng lớn đồng thời các ngài đã
thành lập Hội Thầy Giảng để cộng tác với các ngài trong công
cuộc rao giảng Tin mừng. Các thành viên của Hội sống chung
với nhau, khấn khó nghèo, vâng phục và không kết hôn.
Trong những năm sau đó, Hội Thầy Giảng càng ngày càng được
kiện toàn tổ chức và trở nên phổ biến khắp Đàng Ngoài, góp
phần quan trọng trong việc rao giảng Tin mừng cho đồng bào
Việt Nam. Đời sống tu hành dành cho nam giới người Việt ở
Miền Bắc ra đời từ đấy.
1.2. THỜI TÔNG TOÀ (1659-1960)
1.2.2. Từ giữa TK 17 đến cuối TK 19
Năm 1645, cha Alexandre De Rhodes trở về châu Âu và nhờ sự vận động tích cực và hiệu quả của ngài,
ngày 09.09.1659, Toà Thánh đã thành lập hai giáo phận trên phần đất Việt Nam và vùng phụ cận đồng
thời cắt cử Đức cha Fr. Pallu làm Giám mục Đàng Ngoài và Đức cha Lambert de la Motte làm giám mục
Đàng Trong.
Trong những năm 1660, hai đức giám mục này đã lập ra Hội Thừa sai Paris, một hội giáo sĩ tông đồ
thuộc quyền giáo hoàng, có mục tiêu là huấn luyện hàng linh mục bản quốc, truyền giáo và phục vụ
giáo dân ở Việt Nam và các nước Đông Á. Bản luật của Hội đã được Đức Giáo hoàng Alexandre VII
phê chuẩn năm 1664. Ngay từ năm 1660 các thừa sai của Hội đã lên đường đến các khu vực thuộc
Miền Bắc và Miền Nam nước ta ngày nay để giảng đạo.
Năm 1670, khi kinh lược Đàng Ngoài, Đức cha Lambert de la Motte đã quyết định thành lập Dòng MTG
tại Kiên Lao và tại Bái Vàng trên cơ sở là hai nhóm trinh nữ sống chung với nhau đã được các cha
Dòng Tên hướng dẫn. Mục đích của Dòng mới này là kết hợp với Chúa Giêsu chịu đóng đinh trong kinh
nguyện và hy sinh đồng thời giáo dục và chăm sóc các thiếu nữ, rửa tội cho trẻ em nguy tử và đưa
các phụ nữ ra khỏi con đường lầm lạc. Đức cha đã cử hành thánh lễ trao bản luật và nhận lời khấn
của các nữ tu vào ngày 19.02.1670. (3)
Từ đó mô hình Dòng MTG được phổ biến khắp các giáo phận ở Miền Bắc, đặc biệt là ở các giáo phận
do các cha Hội Thừa sai Paris coi sóc. Ngay trong thời cấm đạo, vào thời điểm năm 1751 Tây Đàng
Ngoài đã có khoảng 400 chị, năm 1846 có 673 chị và năm 1884 có gần 2000 chị (4). Các nữ tu MTG hàng
ngày len lỏi vào các thôn xóm, bán thuốc nam, truyền giáo, rửa tội cho trẻ em sinh thì, giúp đỡ
cô nhi quả phụ, dạy giáo lý và cầu nguyện cho Giáo Hội.
Từ năm 1676, Đức cha Fr. Pallu đã mời các cha Dòng Đaminh ở Philippin tới truyền giáo ở Địa phận
Đông. Năm 1759 Toà Thánh quyết định trao vùng này cho Dòng Đa Minh. Từ đó đông đảo các tu sĩ dòng
Đa Minh từ Philippin và Tây Ban Nha đã sang truyền giáo ở Việt Nam.
Bên cạnh các nhà mụ MTG đã tồn tại từ thời trước trên phần đất này, các cha Dòng Đa Minh còn thành
lập nhiều nhà mụ Đa Minh tại các vùng đất các ngài truyền giáo. Nhà mụ Đa Minh đầu tiên ra đời tại
Trung Linh năm 1715. Các nhà mụ này dần dần có luật lệ chặt chẽ gần như một nhà dòng. Từ năm
1860 lề luật nhà mụ được phổ biến bằng chữ Nôm.
Các nhà mụ MTG cũng như nhà mụ Đa Minh phổ biến ở khắp Miền Bắc. Chiếm ưu thế ở tả ngạn sông Hồng
là nhà mụ Đa Minh, trong khi đó bên hữu ngạn, thì nhà mụ MTG chiếm địa vị độc tôn. Các nhà mụ này
phát triển bí mật, công khai hay bán công khai thì tuỳ nơi, tuỳ thời, tuỳ địa phương. Tinh thần hy
sinh, phục vụ của các mụ hãy còn in dấu trong tâm thức sống đạo của giáo dân Miền Bắc cho đến hôm nay.
1.2.3. Từ cuối thế kỷ XIX cho đến nửa đầu thể kỷ XX
Từ cuối thế kỷ XIX cho đến nửa đầu thể kỷ XX, khi cơn bách hại qua đi, Giáo hội Miền Bắc bước vào
thời kỳ tái thiết thì các nhà mụ MTG và nhà phước Đa Minh phát triển và trở nên phổ biến sâu rộng
tại các giáo phận Miền Bắc.
Các nhà mụ MTG chủ yếu lập các cơ sở ở Vinh, Thanh Hoá, Phát Diệm, Hà Nội, Hưng Hoá. Cho đến đầu
những năm 1940, tất cả các giáo phận vốn thuộc Tây Đàng Ngoài đều đã có các cộng đoàn MTG, tham gia
các công tác mục vụ giáo lý, bác ái xã hội và nhất là ăn chay, hãm mình, cầu nguyện cho Hội Thánh.
Các nhà mụ Đa Minh nằm ở Đông Đàng Ngoài từ
năm 1920 được đổi tên thành nhà phước. Các nhà phước này
phát triển rất nhanh và hiện diện trong tất cả các giáo phận
thuộc Đông Đàng Ngoài mà nơi tập trung nhiều nhất là Giáo
phận Trung, thuộc Thái Bình và Bùi Chu ngày nay. Năm 1916
địa phận Trung có 450 chị và đến năm 1933 con số này đã tăng
lên 780 chị (5). Các chị đã góp phần tích cực và quan trọng
trong đời sống đức tin của giáo dân, đặc biệt trong việc
truyền giáo, dạy giáo lý, chăm sóc cô nhi quả phụ, etc.
Vào giai đoạn này, bên cạnh việc trông coi
các giáo xứ, các cha dòng Đa Minh, cũng lập nên một số tu
viện, chủng viện ở phần đất thuộc các giáo phận Thái Bình,
Hải Phòng và Bùi Chu ngày nay mà danh tính một số vẫn còn
vang bóng như Chủng viện Đa Minh Quần Phương, Chủng viện
Saint Thomas Nam Định, Tu viện Đa Minh Cát Đàm-Thái Bình, Tu
viện Đa Minh Hà Nội.
Cũng từ cuối thế kỷ XIX cho đến nửa đầu thể
kỷ XX, khi Giáo Hội Miền Bắc bước vào thời kỳ tái thiết và
phát triển trong bình an, thì khá nhiều dòng tu nam nữ ngoại
sinh (6) đã được du nhập vào Miền Bắc, tham gia các lãnh vực tông đồ
khác nhau, bác ái và văn hoá-giáo dục, tạo nên một sức sống
mới mẻ và sinh động cho Giáo hội Miền Bắc.
Hà Nội, trung tâm văn hoá, kinh tế, chính
trị và tôn giáo hàng đầu ở Miền Bắc, là nơi đón nhận nhiều
nhất các dòng tu đến lập cơ sở và làm tông đồ như Dòng
Thánh Phaolô (1883), Dòng Sư huynh La San (1884), Dòng Cát
Minh (1885), Dòng Chúa Cứu Thế (1928), Hội Xuân Bích (1929),
Dòng Đa Minh Lyon (1930) Dòng Kinh sĩ Thánh Augustino
(1936), Dòng Đức Bà Truyền giáo (1941), Dòng Salésiens Don
Bosco (Đầu thập niên 1952).
Các dòng tu cũng có mặt ở các giáo phận
khác: Dòng Cát Minh đến Bùi Chu năm 1923 và đến Thanh
Hoá năm 1929. Dòng Đức Bà Truyền giáo đến Phát Diệm (1924),
đến Thanh Hoá (1927) và đến Lạng Sơn (1927). Dòng Đa Minh
Lyon đến truyền giáo ở Lạng Sơn năm 1908. Tại Vinh có Dòng
Nữ Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ (1935), Dòng Clara (1935), Dòng
Phanxicô (1929). Năm 1934, Dòng Phanxicô ra Thanh Hoá. Ngoài
ra năm 1938 còn có các linh mục Hội Phụ tá Truyền giáo
(S.A.M) đã đến giúp địa Phận Phát Diệm và Bùi Chu và Thanh
Hoá.
Từ đầu thể kỷ XX, tại Miền Bắc song song
với tiến trình du nhập các dòng tu ngoại sinh là phong trào
cải tổ các nhà phước. Sự hiện diện của các dòng tu ngoại
sinh vốn đã tồn tại hàng trăm năm trong Giáo Hội trở thành
điểm quy chiếu cho các nhà mụ MTG và nhà phước Đa Minh điều
chỉnh và chuẩn hoá lối tu hành của mình. Tiến trình này sau
đó diễn ra nhanh chóng và quy mô hơn nữa nhờ các khuyến cáo
của Công đồng Kẻ Sở năm 1912 và Công đồng Hà Nội năm 1934.
Phong trào cải tổ các nhà mụ MTG khởi đi
từ Phát Diệm. Năm 1902 Dòng MTG Phát Diệm được thành lập
và năm 1925 dòng này hoàn thành cơ bản công cuộc cải tổ theo
giáo luật. Kể từ đó Dòng MTG Phát Diệm trở nên một Hội Dòng
năng động và đầy sức sống. Năm 1935, Dòng MTG Phát Diệm sinh
ra Dòng MTG Thanh Hoá. Năm 1943 Dòng MTG Phát Diệm đã thành
lập Dòng MTG Hưng Hoá. Năm 1936 Dòng MTG Vinh được thành lập
và sau đó đến năm 1952 được cải tổ nhờ các nữ tu của Dòng
MTG Thanh Hoá.
Trong khi đó ở một diễn biến khác, từ năm 1936 các chị em
trẻ tuổi của các nhà phước MTG Hà Nội được các nữ tu Dòng
Kinh sĩ Thánh Augustinô huấn luyện và được khấn theo giáo
luật vào năm 1941. Năm 1954 các nữ tu dòng MTG Phát Diệm
giúp cải tổ phần còn lại của MTG Hà Nội, nhưng một phần vì
vấn đề giáo luật liên quan đến tên gọi, phần khác biến cố
Nam-Bắc chia đôi kéo theo cuộc di cư năm 1954 cho nên cuộc
cải tổ phần dở dang của MTG HN tiếp tục dở dang cho đến nay.
Tại các giáo phận thuộc khu vực truyền giáo của các cha Dòng Đa Minh, phần lớn
các nhà phước MTG trở thành Dòng Con Đức Mẹ Mân Côi khi
Dòng này được Đức cha Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn sáng lập năm 1946.
Phần ít ỏi còn lại được cải tổ thành Dòng MTG Bùi Chu năm
1953. Trong khi đó, các nhà phước Đa Minh được Đức cha
Phêrô-M. Phạm Ngọc Chi cải tổ thành Dòng Nữ Đa Minh Việt
Nam năm 1950.
Miền Bắc trước năm
1954 còn có một số dòng tu và tu hội khác được khai sinh.
Tại Bùi Chu, cha Đa Minh Maria Trần Đình Thủ đã lập Dòng Đức
Mẹ Đồng công Cứu chuộc năm 1948 và lập Dòng Mẹ Thăm Viếng
năm 1950. Tại Thái Bình năm 1949, cha Micael Nguyễn Khắc
Tước thành Tu hội Nhập thể Tận hiển Truyền giáo. Tại Phát
Diệm, năm 1953 Cha Trần Ngũ Nhạc thành lập Tu hội Chúa
Giêsu.
Trong nửa đầu thế kỷ XX, dòng giáo hoàng
và dòng giáo phận, dòng nam và dòng nữ, dòng nội sinh và
ngoại sinh, dòng giáo sĩ và trợ sĩ, tất cả đều đã hiện diện
ở Miền Bắc như trăm hoa đua nở và đã tích cực hoạt động
trong các lãnh vực truyền giáo, văn hoá, giáo dục và bác ái
xã hội.
1.2.4. Từ năm 1954 đến năm 1960
Trong lúc đời sống tu trì triển nở mạnh
mẽ và có những cống hiến tích cực, thì đất nước xảy ra cuộc
phân ly và di cư năm 1954. Sự kiện này không những đảo lộn
vị trí và vai trò của Công Giáo Bắc-Nam mà còn đảo lộn sự
phát triển của các dòng tu ở hai miền Nam-Bắc và làm dang dở
tiến trình cải tổ của các dòng tu trên đất Bắc.
Toàn bộ ban lãnh đạo và hầu hết nhân sự ưu
tú nhất của các Dòng MTG Hà Nội, MTG Phát Diệm, MTG Thanh
Hoá, MTG Bùi Chu, Đa Minh Việt Nam, Mân Côi Bùi Chu đều di
cư vào Nam. Đấy là tiền thân của các Dòng MTG Khiết Tâm,
MTG Gò Vấp, MTG Đà Lạt, Trinh Vương, Đa Minh Tam Hiệp, Mân
Côi Chí Hoà. Chỉ có Dòng MTG Hưng Hoá và Dòng MTG Vinh là
không di cư, vì lý do hai dòng này sớm nằm trong vùng Việt
Minh kiểm soát.
Các nhà phước ở Thái Bình, Bắc Ninh, Lạng
Sơn và Hải Phòng chưa kịp cải tổ cũng di cư vào Nam và được
cải tổ làm thành các dòng mới như: Dòng MTG Bắc Hải, MTG Tân
Việt, MTG Thủ Đức, MTG Tân Lập, Dòng Đa minh Lạng Sơn, Dòng
Đa Minh Xuân Hiệp, Đaminh Thánh Tâm. Tu hội Nhà Chúa. Dòng
Đồng Công ở Bùi Chu, tu hội Chúa Giêsu Linh mục ở Phát Diệm
và Tu hội Nhập Thể-Tận Hiến-Truyền giáo ở Thái Bình di cư
toàn bộ không còn chút cơ sở vật chất và nhân sự gì trên
đất Bắc.
Hầu hết các dòng tu có gốc ở Miền Bắc di cư
vào Nam đều định cư ở vùng năng động nhất nước là Sài Gòn,
Xuân Lộc, Đà Lạt, Vũng Tầu-Bà Rịa mà khi ấy tất cả đều thuộc
Giáo phận Sài Gòn và góp phần biến vùng đất mới này trở
thành một trung tâm mới của Công giáo Việt Nam.
Các dòng trực thuộc Toà Thánh cũng di cư
toàn bộ các cơ sở đào tạo và hầu hết nhân sự. Các đơn
vị không còn tu sĩ nào hiện diện ở Miền Bắc là Dòng Cát
Minh, Dòng Đa Minh, Dòng Salésiens Don Bosco, Dòng La San,
Dòng Đức Bà Truyền giáo, Dòng Phanxicô, Dòng Kinh sĩ Thánh
Augustinô, Dòng Nữ Thừa sai Phan Sinh, Hội S.A.M, Hội Xuân
Bích, Dòng Clara, Dòng Nữ Vinh Sơn. Riêng Dòng Chúa Cứu Thế,
Dòng Phaolô, Dòng Châu Sơn may mắn còn được vài người ở lại
Miền Bắc, giữ ngọn lửa hiện diện của các dòng tu quốc tế
trực thuộc giáo hoàng.
Gia sản vật chất và tinh thần của mấy trăm
năm đón nhận đức tin, mấy trăm năm tu trì của các dòng tu,
các nhà mụ, nhà phước ở Miền Bắc bỗng chốc bị bốc đi hết. Ở
lại chỉ còn một số ít ỏi các tu sĩ nam nữ mà thương thay
phần lớn lại là các tu sĩ già yếu, bệnh tật, trình độ văn
hoá thấp- những người phần lớn chẳng có gì sợ mất khi ở lại
hoặc cũng không có sức để ra đi.
Tuy nhiên, chính từ cái số sót không ra gì trong con mắt
người đời này lại là những người duy trì sự hiện diện của
các dòng tu trên phần nửa đất nước và gìn giữ ngọn lửa đức
tin cho bao nhiêu người dân khốn khó trong đêm thâu, để rồi
từ đó Chúa quyền năng và nhân hậu lại dùng số sót này mà gầy
dựng một cơ nghiệp mới cho các dòng tu trên Đất Bắc.
1.3. THỜI CHÍNH TOÀ (1960-2008) : THƯƠNG KHÓ VÀ PHỤC SINH
1.3.1. Từ đầu thập niên 1960 đến cuối thập niên 1980
Những năm đầu sau 1954, các dòng ở Miền Bắc
có phần còn dẽ thở hơn ít nhiều, nhờ còn một chút tự do của
thời trước 1954 rơi rớt lại hay chưa bị cướp đi. Bước vào
thập niên 1960 các dòng tu ở Miền Bắc bước vào đỉnh cao của
con đường thương khó đã được khởi đầu từ năm 1954.
Khó khăn thử thách sớm đến với các dòng nam
còn lại. Các thừa sai MEP ở Hà Nội và Hưng Hoá và các tu sĩ
người ngoại quốc của Dòng Chúa Cứu Thế và Dòng Phaolô bị
trục xuất hoàn toàn. Hai dòng nam còn sót lại ở Miền Bắc là
Dòng Chúa Cứu Thế và Đan viện Châu Sơn không thể nhận người
đào tạo. Chẳng những thế, quá nửa số sót lại đã bị bắt đi
tù. Hai dòng này sống được cho đến thời đổi mới nhờ mỗi dòng
còn một linh mục sống sót trong tu viện và có vài vị tử đạo
trong tù. Người sống người chết đều đáng kính.
Các dòng nữ cũng bi đát không kém. Số ít các
chị em còn ở lại Miền Bắc cũng nhiều người bị bắt đi tù.
Tình hình khó khăn hơn một bước từ những năm 1960 khi Miền
Bắc đi lên CNXH, bước vào đỉnh cao của thời chuyên chính vô
sản, các tu sĩ bị tước đoạt tư liệu và phương tiện sản xuất
trong phong trào hợp tác hoá. Lúc này các tu sĩ ở thế tiến
thoái lưỡng nan: Vào hợp tác xã thì không được mà ở lại
trong dòng thì không có gì để sống. Mấy năm sau, khi chiến
tranh mở rộng, Miền Bắc bị không lực Hoa Kỳ ném bom, tình
hình càng bi đát hơn, nhiều dòng nhà mất và người mất, vì
bom đạn và vì chính sách tất cả cho tiền tuyến. Cơ sở của
các dòng còn lại hầu như đều bị lấy mất, chị em bị áp lực
vận động tự giải tán, hay bị cô lập. Bi đát hơn cả có lẽ là
Dòng MTG Phát Diệm và MTG Hưng Hoá.
Trong đêm tối âm u, hầu hết các dòng vấn
nhận người đào tạo. Đấy là một công cuộc đào tạo không đồng
đều, bán công khai, không được liên tục và chính quy. Một
mặt do số chị em còn lại phần lớn là những người già yếu
bệnh tật và trình độ văn hoá thấp, không đủ năng lực để
truyền lại cho người trẻ những tinh tuý của đời sống tu
dòng. Nếu còn ai có bản lĩnh thì cũng đã bị bắt bỏ tù hoặc
bị quản chế. Mặt khác chính sách tôn giáo khắc nghiệt hơn
khiến cho các dòng tu không thể tập trung đào tạo và sống
đời tu một cách bình thường. Do đó, trong nhiều thập niên,
nhiều chị em ở Miền Bắc vào dòng lâu năm nhưng không được
khấn hoặc nếu có cũng chỉ là lời khấn tư cho mãi đến thời
gian gần đây.
Trong đau thương Chúa vẫn làm phép lạ: Bộ
phận các nhà mụ MTG của Tổng Giáo phận Hà Nội ở rải rác tại
các tỉnh Hà Tây, Hà Nam, Nam Định đã được cải tổ lập nên
Dòng MTG Hà Nội giữa thủ đô. Dòng Trinh Vương ở Bùi Chu được
thành lập trên cơ sở là một số chị em Dòng MTG Bùi Chu còn
sót lại không di cư. Nhiều nhà phước Đa Minh ở Thái Bình,
Bắc Ninh vẫn tiếp tục tồn tại như là một hình thái sơ khai
của đời sống tu trì từ xa xưa còn sót lại mà cách ứng xử đôi
khi có phần xa lạ ngay cả với giáo sĩ và giáo dân. Tất cả
đều sống lay lắt chờ thời.
1.3.2. Từ cuối thập niên 1980 đến nay
(2008)
Từ cuối thập niên 1980, người ta chứng kiến
một sự hồi sinh đời sống tu dòng ở Miền Bắc. Trong bối cảnh
đất nước cải tổ và đổi mới được phát động từ cuối năm 1986,
Bắc-Nam bắt đầu giao lưu nhiều hơn. Người lớn vào tham quan,
người trẻ vào học tập. Hầu hết các dòng tu còn tồn tại ở
Miền Bắc đều gửi các ứng sinh vào đào tạo tại các hội dòng
cùng gốc ở Miền Nam. Hầu hết các dòng tu có gốc gác từ Miền
Bắc đều cho người về giúp đỡ lại các chị em anh em ở Miền
Bắc. Các dòng chỉ có cơ sở ở Miền Nam cũng nhận người Bắc
vào đào tạo với hy vọng có thể giúp gì cho Miền Bắc.
Kết quả của tiến trình này là từ những năm
đầu của thập niên 1990, hầu hết các dòng nữ có nhà chính ở
Miền Bắc đều đã mở được tập viện. Các chị em trong các nhà
mụ, nhà phước, hay nhà dòng đã nhập tu từ cuối thập niên
1950 mà chưa khấn hay mới chỉ có lời khấn tư từng bước được
công khai tuyên khấn theo giáo luật. Các nữ tu sinh trưởng ở
Miền Bắc được đào tạo ở Miền
Nam trong giai đoạn mới này, khi hoàn tất chương trình và về
lại Miền Bắc, đã trở thành những tác nhân đắc lực cho công
cuộc khôi phục, cải tổ, hay thành lập các hội dòng ở Miền
Bắc. Đó là điều đã diễn ra ở Dòng Mân Côi Bùi Chu, Dòng MTG
Phát Diệm, MTG Thanh Hoá, MTG Hưng Hoá, Dòng Đa Minh Bùi
Chu, Dòng Trinh Vương, MTG Bùi Chu.
Hai dòng nam
còn sót lại sau 1954 là Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội và Dòng
Xitô Châu Sơn cũng từng bước được phục hồi. Cuối những năm
1980 và đầu những năm 1990, các ứng sinh từ hai cơ sở này
được thu nhận và gửi vào Nam huấn luyện. Tiếp theo là các tu
sĩ từ Miền Nam được phép ra Miền Bắc phục vụ. Chỉ gần 2 thập
niên khôi phục, các tu viện của hai dòng này nay đã trở
thành những trung tâm tôn giáo sinh động ở Miển Bắc.
Nhiều dòng
tu tìm cách hội nhập vào Miền Bắc để phục vụ. Dù gặp nhiều
khó khăn trong ngoài, nhưng những nỗ lực bền bỉ của các đấng
bản quyền và của các tu sĩ đã mang lại những kết quả khả
quan. Một số tu sĩ dòng được giảng dạy trong Chủng viện Hà
Nội như Dòng Chúa Cứu Thế (1993), Dòng Salesiens Don Bosco
(1994), Dòng Tên (2005), Tu hội Linh mục Thánh Tâm (2006).
Dòng Đa Minh, Dòng Thánh Thể, Dòng Thánh Tâm, Dòng Salesiens
Don Bosco cũng có các sở mới tại các giáo phận như Vinh,
Hưng Hoá, Thái Bình, Hải Phòng, Bùi Chu, Thanh Hoá.
Một số dòng
nữ cũng đã thành lập được một hay nhiều cộng đoàn ở Miền
Bắc: Ở Lạng Sơn có các cộng đoàn của Dòng Đa Minh Lạng Sơn,
Dòng MTG Thủ Thiêm, Dòng Phaolô Đà Nẵng. Ở Giáo phận Ở Giáo
phận Thái Bình có các cộng đoàn của Dòng MTG Tân Lập, Dòng
Phaolô, Dòng Thánh Tâm. Ở Giáo phận Hải Phòng có các cộng
đoàn của Dòng Đa Minh, Dòng Thánh Thể, Dòng Chúa Cứu Thế. Ở
Vinh có các cộng đoàn của Dòng Bác Ái Thánh Gioana Antida
Thouret, Dòng Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn. Ở Hà Nội có các
cộng đoàn của các chị Dòng Nữ tử Bái Ái, Dòng Nữ Phan sinh
Thừa Sai, Dòng Mân Côi Chí Hoà, Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ, Dòng
Tiểu Muội Chúa Giêsu, Dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, Dòng Phaolô
Thiện Bản, v.v.
Trong những
năm gần đây, khi đất nước bước vào quá trình đổi mới, cải tổ
và hội nhập, khu vực Giáo tỉnh Hà Nội cũng xuất hiện những
dòng tu mới được thành lập. Đó là các tu đoàn giáo sĩ Truyền
Tin dành cho nam giới và tu đoàn Nữ Truyền Tin ở Hà Nội,
Dòng Thăm Viếng ở Bùi Chu, Dòng Thừa Sai Bác Ái ở Vinh
(1980-1994), Tu Hội Hiệp Nhất ở Bắc Ninh (1963/2002), Tu hội
Tận Hiến (Hải Phòng 1980), Tu hội Emmanuel (1999- Hải
Phòng).
Hiện nay,
Giáo tỉnh Hà Nội có 19 dòng tu có nhà chính trong Giáo tỉnh
và có 26 dòng tu có nhà chính ở ngoài giáo tỉnh.
2. SƠ LƯỢC THỰC TRẠNG CÁC DÒNG TU TẠI GIÁO TỈNH HÀ NỘI
2.1. SỰ HIỆN DIỆN CỦA CÁC DÒNG TU (7)
2.1.1. Sự hiện diện của các dòng nội sinh
Tính số dòng tu có cơ sở chính ở trong Giáo
tỉnh Hà Nội, thì tỷ lệ dòng tu /giáo phận của Giáo tỉnh
là 19/10, so với Giáo tỉnh Huế là 14/6 và của Giáo tỉnh
Sài Gòn là 84/ 10 (8)
Tỷ lệ giữa dòng nam và dòng nữ ở Giáo
tỉnh Hà Nội là 2/19, trong khi ở Giáo tỉnh Huế là 4/14
và Giáo tỉnh Sài Gòn là 31/84. Trong số 9 giáo phận có các
dòng có nhà chính, thì chỉ có hai giáo phận là Hà Nội và
Phát Diệm là có dòng nam, 7 giáo phận còn lại chỉ có các
dòng nữ. Tổng cộng có 50 tu sĩ nam trong khi có tới 2029 nữ
tu. Tức cứ khoảng 40 nữ tu mới có 1 nam tu. Sự mất cân đối
thể hiện rõ nhất là ở Bùi Chu: 5 dòng nữ mà không có một
dòng nam nội sinh nào.
Có đến 9/19 dòng tu mới được thành lập ở
Miền Bắc sau năm 1954, trong đó có 5 dòng tu mới được
thành lập từ giữa thập niên 1990 đến nay. Tuy nhiên, 3 trong
số đó ra đời trên cơ sở là những dòng tu hay nhà phước tồn
tại từ trước như MTG Kiên Lao, Tu đoàn Nữ Truyền Tin, Nữ Đa
Minh Thái Bình. Những dòng tu có gốc lâu đời ở Miền Bắc như
MTG và Nữ Đa Minh có sự hiện diện sâu rộng và phát triển
mạnh hơn các dòng khác nội sinh khác.
Các dòng tu và các cộng đoàn tu phân bố
không đồng đều giữa các giáo phận, các tỉnh thành trong Giáo
tỉnh: Trong khi Giáo phận Bùi Chu có 5 dòng tu có nhà
chính thuộc quyền Đức Giám Mục thì Giáo phận Lạng Sơn không
có dòng nào. Trong khi 6 huyện miền dưới của tỉnh Nam Định
có 63 tu viện và cộng đoàn thì các tỉnh Quảng Ninh, Hà
Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La không có một tu
viện hay cộng đoàn tu hành nào hiện diện.
Tất cả số dòng tu trên đây đều chủ yếu
hiện diện và phục vụ trong giáo phận có nhà chính. Một
vài dòng tu có một vài cộng đoàn ở ngoài giáo phận có nhà
chính, nhưng chủ yếu là ở Hà Nội và Sài Gòn và là các cộng
đoàn nhỏ, quy tụ các chị em đi học ở các trường trung học
chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học.
Số lượng ít ỏi các dòng tu, nội lực mở
rộng sự diện hiện của dòng ra các giáo phận khác, và sự mất
cân đối về mật độ phân bố của các dòng tu cũng như sự mất
cân đối giữa dòng nam và dòng nữ, giữa tu sĩ nam và tu sĩ nữ
là hiện tượng nổi bật của Giáo tỉnh Hà Nội trong lãnh vực
đời sống thánh hiến và trong đời sống của Giáo Hội.
2.1.2. Sự hiện diện
của các dòng ngoại sinh (9) :
Tỷ lệ dòng tu ngoại sinh/giáo phận là 26/10, tỷ lệ dòng
ngoại sinh/ dòng nội sinh là 26/19. Như vậy, số dòng
ngoại sinh ở Giáo tỉnh Hà Nội nhiều hơn số các dòng nội
sinh.
Phần lớn các dòng ngoại sinh đều mới tái
lập cơ sở ở Miền Bắc trong những năm gần đây khi đất
nước bước vào thời đổi mới. Riêng Dòng Chúa Cứu Thế (1928)
và Dòng Thánh Phaolô (1883) là hiện diện liên tục ở Miền Bắc
từ trước năm 1954 đến nay.
Trong khi các dòng nội sinh có rất ít các dòng nam, còn lại
hầu hết là dòng nữ (2/19), thì ngược lại đối với các dòng
ngoại sinh, số dòng nam gần bằng hai phần ba số dòng nữ
(11/15).
Trong số các dòng giáo sĩ hiện diện ở Miền
Bắc, thì DCCT và Tu hội Linh mục Thánh Tâm Chúa Giêsu có
đông linh mục nhất, mỗi đơn vị có 14 LM, trong khi các
đơn vị khác chỉ có 1 đến 4 LM như Hội Xuân Bích (1 LM), như
Dòng Tên (2LM), Thánh Thể (3 LM), Đa Minh ( 4LM), Salesiens
Don Bosco (5 LM).
Các dòng ngoại sinh có sức lan toả rộng
hơn các dòng nội sinh. Trong khi các dòng nội sinh đông
người mà hiện diện trên ít giáo phận, thì các dòng ngoại
sinh ít người mà lại hiện diện trên nhiều giáo phận trong
Giáo tỉnh. Các đơn vị như Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Đa Minh
Việt Nam, Tu hội Linh mục Thánh Tâm hiện diện ở 4 giáo phận,
Dòng Phaolô Đà Nẵng hiện diện ở 5 năm giáo phận.
Trong số các dòng nữ thì Dòng Phaolô Đà
Nẵng và Dòng Đa Minh Rosa Lima là có nhiều cộng đoàn và đông
đảo nữ tu: Dòng Phaolô có 10 cộng đoàn với 41 nữ tu.
Dòng Đa Minh Rosa Lima có 6 cộng đoàn với 52 nữ tu, chưa kể
các đệ tử. Các dòng nữ còn lại thường có ít cộng đoàn và
nhân sự trong mỗi cộng đoàn thường cũng chỉ một vài người.
Mặc dù số tu sĩ của các dòng nam ở Miền
Bắc không nhiều, nhưng sự hiện diện của các dòng có tính
cách tích cực và có vai trò quan trọng trong sứ mạng phục vụ
Giáo hội Miền Bắc. Hiện tại có thanh viên của 5 dòng tu
tham gia dạy chủng viện đó là: Dòng Tên, Dòng Chúa Cứu Thế,
Dòng Salesien Don Bosco, Tu hội Thánh Tâm, Hội Linh mục Xuân
Bích.
Các dòng ngoại sinh nhiều hơn và có sức lan toả rộng hơn
các các dòng nội sinh mặc dù có lượng nhân sự ít hơn nhiều
lần. Số dòng nam nữ ngang nhau, trong khi đó các dòng nam có
vai trò quan trọng trong sứ mạng phục vụ Giáo hội Miền Bắc.
2.2. NHÂN SỰ CỦA CÁC DÒNG TU (10)
2.2.1. Số lượng
Nếu tính chung nhân sự của toàn thể các
dòng nội ngoại sinh thì tại Giáo tỉnh Hà Nội hiện có 1933
đệ tử, 512 tập sinh, 1064 tu sĩ khấn tạm, 1177 tu sĩ khấn
trọn và 61 linh mục.
Các dòng nội sinh: Tổng số
nhân sự của các dòng tu nội sinh là 10 linh mục, 1051 tu sĩ
khấn trọn, 1018 tu sĩ khấn tạm, 512 tập sinh và 1780 đệ tử.
Số tu sĩ khấn tạm và khấn trọn tương đương nhau. Ít nhất
là các linh mục và đông nhất là các đệ tử.
Một số dòng tu mới được thành lập trong
những năm gần đây do đó chưa có sự ổn định. Hiện có 2/19
đơn vị không có nhà tập, 1/19 đơn vị chưa có tu sĩ khấn lần
đầu, 4/19 đơn vị chưa có tu sĩ khấn trọn đời, 7/19 đơn vị có
số tu sĩ có lời khấn dưới 50 thành viên. Như vậy là số tu sĩ
trong toàn dòng còn rất ít. Có đơn vị như Tu đoàn Nam và Nữ
Truyền Tin chỉ có hơn 1 chục thành viên có lời khấn.
Tỷ lệ nam tu sĩ của các dòng nội sinh so
với tỷ lệ nữ tu có sự mất cân bằng nghiêm trọng 50/2029.
Nhân sự của các tu hội và tu đoàn thường thấp hơn nhiều
so với nhân sự các dòng tu.
Các dòng tu thuộc giáo tỉnh Hà Nội thường có rất nhiều ơn
gọi và số ơn gọi không thua kém bất cứ một dòng nào ở Giáo
tỉnh Sài Gòn và Giáo tỉnh Huế. Số đệ tử đông nhất thuộc các
dòng MTG Vinh (424), Mân Côi Trung Linh (157), Đa Minh Bùi
Chu (138), Nữ Thừa Sai Bác Ái Vinh (224), MTG Thanh Hoá
(139), MTG Hà Nội (123), MTG Hưng Hoá (109), Tu hội Hiệp
nhất (75). Hai đơn vị đông nhất đều thuộc Giáo phận Vinh, có
lẽ do vùng này giáo dân đông đảo mà sự hiện diện của các
dòng nữ quá thưa thớt nên, hai dòng được đón nhiều ơn gọi.
Các dòng ngoại sinh: Các
dòng ngoại sinh hiện có 153 đệ tử, 46 tu sĩ khấn tạm, 126 tu
sĩ khấn trọn và 51 linh mục. Số các tu sĩ này chưa tính
các thành viên Nữ Tu hội Thánh Tâm Chúa Giêsu sống giữa đời
mà chúng tôi chưa có con số thống kê.
Số lượng dòng ngoại sinh nhiều hơn dòng nội
sinh (26/19), nhưng số nhân sự hiện diện ở Miền Bắc so với
dòng nội sinh rất ít (223/2079), tỷ lệ chênh nhau gần 10
lần. Tuy nhiên, vì số dòng nam ngoại sinh nhiều hơn số dòng
nam nội sinh (11/2) cho nên số linh mục dòng ngoại sinh cũng
đông hơn (51/10) linh mục dòng ngoại sinh.
Số đệ tử và số tu sĩ khấn tạm của các
dòng ngoại sinh rất ít, vì ở Miền Bắc thường chỉ có các
cộng đoàn địa phương và thường không phải là nơi thuận tiện
cho việc đặt các cơ sở đào tạo căn bản từ nhà tập cho đến
Học viện. Trong số 5 dòng có đệ tử ở Miền Bắc, chỉ có một
dòng nam (DCCT) và hai dòng nữ (Phaolô Đà Nẵng và Nữ Phan
Sinh Thừa sai) là có tổ chức đào tạo đệ tử chính quy.
Các dòng ngoại sinh thường mới lập cơ sở
hay mới phục hồi ở Miền Bắc, cho nên số nhân sự tại vùng đất
này còn rất mỏng manh. Thường mỗi cộng đoàn chỉ có một
vài thành viên. Có các cộng đoàn sinh họat như tu viện thực
sự chỉ có Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Phaolô, Dòng Đa Minh Rosa
Lima và Dòng Nữ Phan Sinh Thừa Sai. Tu hội Linh mục Thánh
Tâm Chúa Giêsu có đông minh mục nhưng phục vụ âm thầm rải
rác tại một số giáo phận khác nhau.
2.2.2. Tuổi trung bình (11)
Tuổi trung bình của các tu sĩ Miền Bắc còn
khá trẻ. Lý do là số lớn tuổi thì đã vào Nam, Số ít những
người lớn tuổi ở lại thì đã chết. Số thành viên nhập tu
trong thập niên 1960-1970 dường như rất hiếm. Còn lại phần
lớn mới vào tu từ thập niên 1980 đặc biệt là 1990 trở lại
đây.
Tuổi trung bình của các đệ tử và tập sinh
của các dòng nội sinh thường khoảng 20-22 đối với các đệ tử
và khoảng 22-25 đối với các tập sinh. Lý do là hầu hết các
dòng đều đã tuyển sinh đào tạo một cách bình thường theo
tiến trình và tiêu chí của việc đào tạo các tu sĩ các dòng
tu.
Tu sĩ khấn tạm của phần lớn các dòng đều có
tuổi trung bình thấp, vì họ nhập tu trong những năm gần đây.
Một số đơn vị có tuổi trung bình của tu sĩ khấn tạm khá cao:
Nữ Thừa Sai Bác Ái 30, Nữ Truyền Tin 45 và Nam Truyền tin
43. Hiện tượng này có thể do các thành viên đã tận hiến lâu
năm trong dòng, nhưng chỉ trong những năm gần đây mới được
vào tập viện, cũng có thể do tạm thời nhà dòng chưa tổ chức
khấn trọn.
Các dòng có tuổi trung bình của các tu sĩ
khấn trọn khá cao là MTG Vinh là (60), MTG Hà Nội (55), Tu
hội Tận hiến (54). Lý do là số người trẻ mới vào tu từ đầu
thập niên 1990 đến nay khấn trọn chưa nhiều, trong khi đó số
chị em vào tu trong thập niên 1950 và đầu 1960 còn khá đông.
Các dòng Thăm Viếng Bùi Chu, MTG Thanh Hoá và MTG Hưng Hoá
có độ tuổi trung bình khá trẻ, thường 30 đến 35, vì phần lớn
các tu sĩ khấn trọn đều mới gia nhập nhà dòng vào thời đổi
mới từ những năm 1990 đến nay.
Đối với các dòng ngoại sinh, tuổi trung bình chúng tôi không
khảo sát, nhưng điều mà ai cũng thấy là các đơn vị đều gửi
ra Miền Bắc những người trẻ, đang độ tuổi sung sức nhất, có
khả năng phục vụ nhất. Xu hướng chung của cả các dòng nội
sinh và ngoại sinh là tuổi trung bình càng ngày càng trẻ
hơn, do ơn gọi nơi người trẻ dồi dào và việc đào tạo diễn ra
liên tục và bình thường.
2.2.3. Trình độ văn hoá (12)
Trình độ văn hoá theo cách tính của xã hội
là trình độ trung học, đại học hay sau đại học. Ở đây chúng
tôi không tính những người học thần học trong số này mà số
người học thần học sẽ được xét ở một phương diện đào tạo
khác.
Đối với các dòng nội sinh: Trình
độ văn hoá càng ngày càng được nâng cao. Hầu hết các dòng tu
nhận các ứng sinh khi đã tốt nghiệp phổ thông trung học.
Một số đơn vị nhận các em đang học trung học phổ thông.
Không một đơn vị nào đòi hỏi các ứng sinh phải có trình độ
đại học như một số hội dòng ở Giáo tỉnh TP.HCM.
Các dòng tu đã cố gắng tạo điều kiện cho
các thành viên trẻ có khả năng được theo học các cấp sau
trung học phổ thông. Số lượng các thành viên trẻ có
trình độ văn hoá cao hơn các thành viên lớn tuổi. Các đệ tử,
tập sinh và tu sĩ khấn tạm có trình độ văn hoá cao hơn các
tu sĩ đã khấn trọn.
Tuỳ theo cách thức đào tạo của từng đơn vị
mà số tu sĩ khấn tạm, tập sinh hay số đệ tử có trình độ đại
học nhiều hơn hay ít hơn. Có đơn vị chỉ cho đi học đại học
sau khi khấn tạm. Có đơn vị cho đi học đại học ngay khi còn
ở đệ tử.
Có một số đơn vị có tỷ lệ đệ tử có trình
độ đại học rất thấp, trong khi mọt số đơn vị khác có tỷ lệ
này rất cao. Chẳng hạn Dòng MTG Phát Diệm, chỉ có 1,5 %
số đệ tử có trình độ đại học trong khi Dòng MTG Hà Nội là
85%, Dòng Nữ Thừa sai Bác Ái Vinh là 70%, MTG Hưng Hoá đạt
54%. Sự khác biệt này có thể do hội dòng không thu hút được
các em có trình độ văn hoá cao ở khu vực mình hiện diện,
nhưng chủ yếu do không có chính sách và phương thế khuyến
khích các đệ tử đi học đại học.
Đơn vị nào càng cho đi học sớm, thì tỷ lệ
các thành viên ở các cấp đào tạo có trình độ đại học càng
cao. Chẳng hạn số thành viện đạt trình độ đại học ở cấp
đệ tử, tập sinh và khấn tạm của Dòng MTG Vinh là
42,6 % - 48,3%- 55,3%, của Dòng
MTG Hà Nội là 95,9% - 68,7 % - 85 %, của Dòng Đa Minh
Bùi Chu là 59,4% - 33% - 40 %.
Có đến 9/18 dòng có tỷ lệ đệ tử đạt trình
độ đại học từ 37 % ( Đa Minh Thái Bình) đến 95,9% (Dòng
MTG Hà Nội). Có 8/18 đơn vị có tỷ lệ tập sinh từ 33,3 %
( Dòng Châu Sơn) đến 68,7% (MTG Hà Nội) đạt trình độ đại
học. Có 8/18 đơn vị có tỷ lệ tu sĩ khấn tạm đạt trình độ
đại học từ 33,3 % ( Dòng Châu Sơn) đến 85% (Dòng MTG Hà
Nội). Chỉ có 2 đơn vị có trên 30 % số tu sĩ khấn trọn đời
có trình độ đại học là Tu hội Chúa Hiện Diện (100% - 4/4 tu
sĩ ) và Dòng MTG Hà Nội (38% - 51/134 tu sĩ). Không có
đơn vị nào có các đệ tử, tu sĩ khấn tạm học bậc sau đại học.
Trình độ sau đại học toàn Miền Bắc chỉ có 2/134 tu sĩ khấn
trọn thuộc Dòng MTG HN.
Trong số 18 dòng nội sinh, các đơn vị: MTG
Vinh, MTG Hà Nội, MTG Hưng Hoá, Thừa Sai Bác Ái Vinh, Đa
Minh Bùi Chu, Nam Truyền Tin, Đan viện Châu Sơn, Nữ Đa Minh
Thái Bình số thành viên có trình độ đại học ở các cấp đào
tạo có tỷ lệ cao hơn các đơn vị như MTG Phát Diệm, MTG Kiên
Lao, Thăm Viếng, Trinh Vương, Mân Côi, Nữ Truyền Tin. Đơn vị
có trình độ văn hoá cao nhất là MTG Hà Nội.
Đối với bên nữ, các dòng tu thường có đông người học bậc đại
học hơn các tu hội và tu đoàn.
Có thể tỷ lệ phần trăm của bậc học đại học trong số các tu
hội và tu đoàn khá cao, nhưng thực ra số người của các đơn
vị này rất ít do đó, tỷ lệ phần trăm cũng không phản ánh
được toàn bộ bức tranh của vấn đề trình độ văn hoá.
Đối với các dòng ngoại sinh: Trong số
22 dòng ngoại sinh hiện diện ở Miền Bắc chỉ có 3 dòng có tổ
chức đào tạo đệ tử tại Miền Bắc. Số đệ tử đạt trình độ đại
học khá cao: DCCT 45%, Dòng Đa Minh Rosa Lima đạt 52% và
Dòng Nữ Phan Sinh Thừa sai đạt 100%.
Đối với các dòng nam ngoại sinh, thường là
dòng giáo sĩ, các tu sĩ khấn tạm và khấn trọn thường không
ở Miền Bắc, hiện diện và phục vụ ở đây thường là các linh
mục và một vài trợ sĩ, cho nên ở đây chúng tôi không thể xét
trình độ văn hoá của các tu sĩ khấn tạm và khấn trọn của các
dòng nam ngoại sinh.
Chỉ có 3 dòng nữ ngoại sinh có số nữ tu
khấn tạm được cử ra Miền Bắc phục vụ. Nhưng số đang hiện
diện cũng có trình độ văn hoá khá cao. Số lượng các
thành viên có trình độ đại học của Dòng Nữ Đa Minh Lạng Sơn
là 5/5, của Dòng MTG Tân Lập là 1/1 và của Dòng Nữ Đa Minh
Rosa Lima là 11/19.
Các chị em khấn trọn của các dòng nữ ngoại sinh phục vụ ở
Miền Bắc cũng có trình độ văn hoá cao. Trong số 7/ hội dòng
chúng tôi tính được thì thấp nhất là Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn
cũng có 3/9 chị có trình độ đại học và cao nhất là Dòng Nữ
Đa Minh Lạng Sơn với con số tương đương là 7/9. Điều này
cũng dễ hiểu vì việc thành lập các cộng đoàn mới nơi vùng
đất mới hội dòng thường gửi các thành viên có khả năng cao
hơn những người khác.
2.3. ĐÀO TẠO CỦA CÁC DÒNG TU TẠI GIÁO TỈNH HÀ NỘI (13)
Đào tạo là sự sống của hội dòng. Không đào tạo, hội dòng sẽ chết dần. Nói đến công cuộc đào tạo
không phải chỉ là nói đến việc cho các thành viên học văn hoá, khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật
mà trước nhất là việc mở các nhà đào tạo ở cấp đệ tử, cấp tập viện và cấp học viện.
2.3.1. Đào tạo đệ tử
Tất cả các dòng tu nam nữ ở Miền Bắc đều có nhà đệ tử. Hiện tại 19 dòng
có tổng số 1780 đệ tử. Trung bình mỗi dòng có khoảng 93 đệ
tử. Tuy nhiên số đệ tử chênh lệch nhau, có đơn vị chỉ có 3
người như Tu hội Tận Hiến, có đơn vị có đến 424 người như
MTG Vinh. Hầu hết các dòng đều có từ khoảng 50 đệ tử trở
lên.
Các đệ tử có cuộc sống và sinh hoạt khác khác nhau. Một số đi học đại
học, thì ở thành thị và dành phần lớn thời gian cho việc
học. Trong khi đó, phần lớn các đệ tử khác phải làm việc, từ
việc nội trợ, làm ruộng-chăn nuôi, sản xuất cho đến việc mục
vụ ở giáo xứ. Đối với các em này, thời gian chủ yếu là làm
việc, kinh kệ, lễ lạy chứ không phải chủ yếu dành cho học
tập.
Các đệ tử thường chưa được đào tạo chính quy về giáo lý,
thánh kinh, nhân bản và tu đức. Một mặt các em phải đi làm
hay đi học đại học, mặt khác người dạy cũng có số lượng rất
hạn chế: Chủ yếu là vị phụ trách đệ tử và có thể có thêm vị
phụ tá.
2.3.2. Đào tạo tập sinh
Phần lớn các dòng nội sinh trong Giáo tỉnh Hà Nội đều mở cấp tập viện.
Hai đơn vị hiện nay đang tạm ngưng là Tu hội Tận Hiến và Tu
đoàn Nam Truyền Tin.
Cấp tập viện bao gồm tiền tập và tập viện theo giáo luật. Có
đơn vị không có tiền tập. Thời gian đào tạo cấp này có đơn
vị kéo dài 2 năm, cho nên có đơn vị gọi là tập viện năm 1 và
tập viện năm 2. Có đơn vị kéo dài 4 năm: 2 năm tiền tập, 1
năm tập “rộng”, 1 năm tập “ngặt” theo giáo luật, vì thế cho
nên tổng số tập sinh có khi lên đến 50-60 người như MTG Phát
Diệm, Thừa Sai Bác Ái Vinh, có khi gần 100 như MTG Vinh.
Tập viện ở các dòng đều được tổ chức chính
quy. Các lớp tập hiện có ít là hơn chục tập sinh. Tổng cộng
hiện có 512 tập sinh.Tổng cộng có 512 tập sinh. Có vị giáo
tập và một hay vài vị phụ tá . Các tập sinh thường ít phải
làm việc. Thời gian chủ yếu dành cho việc học tập và cầu
nguyện. Cũng có khi các tập sinh phải làm việc mục vụ đôi
chút.
Các tập sinh thường được học về tu đức, hiến
pháp, nội quy, linh đạo. Trong các lớp tiền tập có khi còn
được học giáo lý, nhân bản, Kinh thánh, thần học, phụng vụ.
Có khi các linh mục, tu sĩ ngoài dòng cũng được mời đến
giảng dạy.
2.3.3. Đào tạo sinh viên học viện
Cấp học viện, đối với các dòng trong Giáo
tỉnh Hà Nội, chưa dòng nào có thể tự tổ chức việc đào tạo
thần học và mục vụ cho các học viên tại dòng mình. Tại hội
dòng của mình, dường như cấp này chỉ có tên và có vị bề trên
phụ trách.
Tổng số tu sĩ khấn tạm của các dòng là 1018
người. Khi khấn lần đầu xong, hiện nay, phần lớn các
thành viên đi phục vụ ở các cơ sở của hội dòng. Một số
được gửi học nghề nghiệp, một số đi học đại học, một số ít
được gửi đi học thần học. Riêng các dòng nữ ở Bùi Chu, hầu
hết được gửi đi học thần học. Có một số rất ít được gửi đi
học đại học. Không ai phải lao vào làm việc ngay mà không
được đào tạo gì thêm.
Số tu sĩ đi học nghề nghiệp chuyên môn thì
tuỳ nhu cầu của hội dòng mà học các nghề khác nhau, từ là
dệt chiếu, đan, may, thêu, vi tính cho đến ngoại ngữ, y tế,
giáo dục. Số tu sĩ đi học đại học thì vừa tuỳ nhu cầu của
hội dòng, vừa tuỳ sở thích và năng lực của mình mà theo học
các ngành phù hợp.
Số học nghề cũng như học đại học rải ra
khắp nước. Thường hội dòng có nhà chính ở tỉnh/thành nào
thì có nhiều người đi học ở tỉnh thành ấy. Cũng có khi học ở
rất xa. Chẳng hạn có tu sĩ ở Miền Bắc mà vào học đại học tận
Cần Thơ hay Đà Lạt. Hai nơi có nhiều tu sĩ học nghề và học
đại học nhất là Hà Nội và Sài Gòn. Nhiều hội dòng Miền Bắc
có các cơ sở lưu trú cho sinh viên của mình ở hai thành phố
này.
Số đi học nghề và học đại học, ít được
đào tạo và chăm sóc về phương diện tu đức và linh đạo.
Chỗ nào may mắn thì hàng tháng có tổ chức một ngày hay nửa
ngày tĩnh tâm. Các thành viên sống chung với những người đã
khấn trọn và các đệ tử. Tất cả có sinh hoạt cộng đoàn, tu
đức và thiêng liêng không khác nhau.
Các tu sĩ học thần học ở hai nơi: Sài
Gòn và Bùi Chu. Hầu hết các dòng đều gửi một số người vào
học tại (1) Lớp thần học Liên Dòng Nữ, tại Trung tâm Mục vụ
của Tổng Giáo Phận TP HCM, hoặc (2) Lớp Thần học dành cho nữ
tu của các Dòng MTG tại Dòng MTG Chợ Quán, hoặc ở (3) Học
viện Nữ Đa Minh tại DCCT Sài Gòn. Có dòng cùng lúc có học
viên ở hai hoặc ba nơi này. Số lượng tuỳ khả năng tài chính
của mỗi dòng và tuỳ thuộc khả năng đón nhận của các Học
viện.
Đối với các hội dòng ở Bùi Chu, một số các
chị em được gửi đi học thần học ở Sài Gòn, còn lại phần lớn
các chị em học tại Học viện Thần học dành cho Liên Dòng Nữ
tại Toà Giám mục Bùi Chu, được thành lập từ năm 2002. Nhờ
vậy các dòng ở Bùi Chu có tỷ lệ nữ tu khấn tạm học thần
học thuộc vào loại cao nhất nước. Có một số dòng đạt tỷ lệ
100% như Đa Minh Bùi Chu, Thăm Viếng, MTG Kiên Lao.
Các chị em học thần học ở Bùi Chu còn có
điều kiện sống đời tu và thực tập mục vụ khá tốt. Thường
ngày các chị em ở tại nhà chính, hoặc các cơ sở gần Toà Giám
mục để tiện việc học tập. Thứ bảy và chủ nhật các chị em đi
làm việc mục vụ tại các giáo xứ, các cơ sở của hội dòng.
Số tu sĩ được học thần học chính quy cũng
có sự khác biệt lớn giữa các hội dòng. Không kể 5 hội
dòng nữ ở GP Bùi Chu, các dòng còn lại ở Miền Bắc chỉ có một
số rất ít chị em được đi học thần học. Dòng MTG Hưng Hoá,
MTG Thanh Hoá, MTG Phát Diệm, Nữ Thừa sai Bác ái Vinh, Đa
Minh Thái Bình số học thần học chỉ đạt trên dưới 10% số tu
sĩ khấn tạm. Riêng các dòng MTG Hà Nội, Tu hội Tận Hiến, Tu
đoàn Nữ Truyền Tin không có tu sĩ học thần học sau khi khấn
lần đầu.
Đối với các tu sĩ đã khấn trọn đời, thế
hệ trẻ có thể một số đã được học thần học. Còn lại phần lớn
đều chưa. Một số dòng tỷ lệ học thần học của đối tượng
này chỉ chiếm trên dưới 5 %. Cao nhất là Dòng Thăm Viếng Bùi
Chu cũng chỉ có 16/30 nữ tu khấn trọn được học thần học. Làm
sao để gia tăng tỷ lệ này trong các hội dòng là một bài toán
khó.
Riêng về phương diện đào tạo thần học-mục
vụ, các dòng ở Bùi Chu được chăm sóc khá chu đáo. Các nữ tu
khấn tạm nếu không đi học ngoại quốc hay học đại học trong
nước, thì đều được học thần học ở Sài Gòn hay Bùi Chu trong
những lớp thần học chính quy tập trung, kéo dài 3 cho đến 4
năm.
Ngoài việc đào tạo ở các cơ sở trong nước,
các dòng tu ở Miền Bắc cũng cho một số chị em trẻ có khả
năng đi du học ngoại quốc.Tiến trình này gắn liền với lĩnh
vực đào tạo các nhà đào tạo trong hội dòng mà ở đây chúng
tôi không thể bàn kỹ hơn. Hiện nay mới chỉ có 9/19 dòng ở
Miền Bắc có người đi du học, với 38 du học sinh. Con số này
còn quá ít, so với nhu cầu đào tạo của từng hội dòng và của
Giáo Hội.
2.3.4. Đào tạo chuyên môn (14)
Các dòng tu cũng bắt đầu ý thức đến việc
đào tạo chuyên môn khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật và dịch vụ
cho thành viên. Những ai đi học trước khi vào dòng,
thường theo các chuyên ngành phù hợp với sở thích và khả
năng. Những người được gửi đi học sau khi vào dòng, thường
theo học các ngành mà hội dòng có nhu cầu cấp thiết. Nơi tập
trung nhiều người của nhiều dòng theo học nhất là Hà Nội và
Sài Gòn. Các tỉnh lỵ thì thường có người của các dòng địa
phương.
Các tu sĩ theo học các ngành khác nhau
như tiếng sư phạm, y khoa, ngoại ngữ, xã hội học, tâm lý
học, giáo dục học, sử học, địa lý học, thông tin thư viện,
Đông phương học, du lịch, hội hoạ, kế toán, kinh tếm thú ý,
nấu ăn, âm nhạc, mỹ thuật, thú y, thương mại, tin học, etc.
Các tu sĩ theo học các ngành xã hội-nhân
văn nhiều hơn là các ngành khoa học kỹ thuật và dịch vụ.
Ngành không có ai học mà rất cần là báo chí, quản trị thông
tin, dân tộc học, sư phạm kỹ thuật. Ngành có số người học
đếm trên đầu ngón tay là thú y, thư viện , kế toán, tin học,
nấu ăn. Ngành có nhiều người học nhất, chiếm tỷ lệ tuyệt
đối (trên 70%), hầu như dòng nào cũng có nhiều người học là
sư phạm và y khoa. Tuy nhiên, chủ yếu học sư phạm mầm
non, trung cấp và cao đẳng y khoa. Ngành đắc dụng cho việc
mục vụ và có khá nhiều người học và là âm nhạc.
Dòng có các thành viên theo học nhiều
ngành khác nhau cùng lúc là Đa Minh Bùi Chu, Mân Côi Bùi
Chu, MTG Hà Nội. Dòng có số thành viên học ít ngành nhất
là MTG Kiên Lao, Thăm Viếng Bùi Chu, Nữ Truyền Tin Hà Nội,
Thừa sai Bái ái Vinh. MTG Thanh Hoá. Các dòng này thường chỉ
có người học sư phạm, ngoại ngữ, y tế và âm nhạc.
Nói chung vấn đề đào tạo chuyên môn của các
dòng tu Miền Bắc, chủ yếu theo khả năng và sở thích của các
thành viên và nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của hội dòng,
chứ chưa tính đến chỗ định hướng đào tạo trong bối cảnh của
Giáo tỉnh hay Giáo Hội Việt Nam. Gọi là trình độ đại học,
chứ thực ra số người học trung học chuyên nghiệp và cao đẳng
hệ 2 năm đến 3 năm nhiều hơn số người học đại học hệ 3 năm
đến 6 năm.
Các lãnh vực lao động trong xã hội càng ngày càng phân ngành
và đòi hỏi chuyên môn hoá càng cao. Các dòng tu ở Miền Bắc
mới chập chững những bước đầu tiên cho công cuộc hội nhập
này.
2.4. KINH TẾ CỦA CÁC DÒNG TU TẠI GIÁO TỈNH HÀ NỘI
Kinh tế của các dòng tại Miền Bắc là nỗi lo
lớn.
Các dòng có những sinh hoạt kinh tế khác
nhau mà trước nhất là làm ruộng và chăn nuôi. Làm ruộng thì
ruộng vườn không đủ để làm. Phương pháp canh tác chủ yếu vẫn
là thủ công, sức người là chính chứ chưa dùng nhiều máy móc.
Vì thế lúa, ngôi, khoai, đậu, lạc làm ra không đủ phục vụ
nhu cầu của nhà dòng. Chỉ có rau xanh đôi khi dư thừa nhưng
giá bán quá rẻ.
Có dòng cũng chăn nuôi gia súc, gia cầm. Chủ
yếu là chăn nuôi lợn thịt và bò sữa. Các đơn vị có các cơ sở
chăn nuôi có quy mô khoảng trên dưới 100 con lợn là Đa Minh
và Mân Côi Bùi Chu. Còn bò sữa thì đơn vị nào nhiều thì được
5 con, ít thì 1 đến 3 con. Sản phẩm làm ra chỉ vừa đủ tiêu
thụ trong dòng, hoặc cho lớp mẫu giáo của dòng. Có đơn vị
cũng cho chị em đi học kỹ thuật chăn nuôi. Tuy nhiên, vốn
đầu tư ít, công nghệ chăn nuôi không, giá thức ăn gia súc
cao, giá cả thực phẩm ở nông thôn rẻ mạt, chưa kể bò lợn
chết vì dịch bệnh hay chậm lớn, vì thế hiệu quả kinh tế
không cao, có khi lỗ vốn.
Các hoạt động kinh doanh kể như không có. Có
một vài dòng mở các nhà sách và điểm bán ảnh tượng và sách
vở như dòng Đa Minh Bùi Chu ở Nhà thờ Chính Toà và Đền Thánh
Phú Nhai. Xem ra có vẻ đông khách, nhưng ảnh tượng thường là
chất lượng thấp, giá rẻ và sách thì giá lại cao so với mức
chi tiêu của nông dân, cho nên thực tế thu nhập không cao và
hoạt động này quá ít và cũng chưa phải là nguồn thu chủ yếu.
Hoạt động tiểu thủ công nghiệp cũng mang nét
truyền thống: Thường là các nghề thêu, đan, may, dệt chiếu.
Cũng hoạt động với quy mô nhỏ lẻ, thủ công, tiêu thụ tại
chỗ. Vì thế hiệu quả kinh tế cũng rất thấp, nhiều khi không
được 500.000 đồng/người/ tháng. Một số dòng nữ có các chị em
lớn tuổi làm thuốc tễ bán cho dân nghèo. Công việc thực ra
là để chị em làm cho khuây khoả lúc tuổi già chứ thu nhập
kinh tế cũng chẳng đáng bao nhiêu.
Một số cơ sở dạy nghề và sản xuất có quy mô
có vẻ hoành tráng, mức độ đầu tư nhà xưởng có khá hơn, như
dòng Phaolô Đà Nẵng ở Thạch Bích-Hà Tây, Dòng Phan Sinh Thừa
Sai ở An Lộc-Nam Định, nhưng thực ra hoạt động này chủ yếu
tạo công ăn việc làm cho những người nghèo vùng quê, cho nên
thu nhập cũng không đáng kể, nhiều khi còn lỗ lớn nếu không
có các nguồn tài trợ từ các tổ chức bác ái.
Đến thăm các nhà dòng ở Miền Bắc, chúng tôi thấy nhiều đơn
vị có cơ sở vật chất to lớn và số lượng nhân sự đông đảo.
Tuy nhiên, nền tảng kinh tế rất yếu kém và vốn liếng rất
mỏng manh. Sống, tu và phục vụ được ấy là phép lạ.
2.5. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DÒNG TU NỘI NGOẠI SINH TẠI GIÁO TỈNH HÀ NỘI (15)
2.5.1. Mục vụ giáo xứ
Các dòng tu nội sinh cũng như ngoại sinh,
hoạt động mục vụ là chủ yếu, trong đó mục vụ giáo xứ chiếm
tuyệt đại đa số nhân sự. Chẳng hạn Dòng MTG Hà Nội phục
vụ thường xuyên ở 39 giáo xứ với 167 người tham gia. Dòng
Mân Côi Trung Linh phục vụ 20 giáo xứ với 110 người tham
gia.
Hiện tại các dòng nội sinh đang phục vụ
thường xuyên 378 giáo xứ, chưa tính Dòng MTG Hưng Hoá. Các
dòng ngoại sinh đang phục vụ 64 giáo xứ, chưa tính Dòng
Phao Lô Đà Nẵng và Tu hội Thánh Tâm Chúa Giêsu. Tổng cộng là
442 giáo xứ.
Nói chung ở Miền Bắc này đâu có tu sĩ thì
ở đấy có các tu sĩ phục vụ giáo xứ. Ngay cả giáo phận
truyền giáo là chủ yếu như Lạng Sơn thì công việc chủ yếu
của các nữ tu cũng là phục vụ giáo xứ. Điều này cũng là lẽ
tất nhiên, vì Miền Bắc linh mục còn thiếu nhiều, nam nữ tu
sĩ còn ít trong khi đó đội ngũ giáo dân có khả năng phục vụ
chuyên sâu còn thiếu vắng.
2.5.2. Hoạt động bác ái xã hội
Các dòng tu nội sinh đang quản lý và phục vụ
28 phòng khám và phát thuốc, có phí và/hoặc miễn phí, trong
đó có những phòng khám và chữa bệnh khá lớn như phòng khám
và chữa bệnh của Dòng Mân Côi Trung Linh. Đây có quy mô của
một bệnh viện nhỏ, có phòng điều trị cho bệnh nhân nội trú.
Các dòng tu nội sinh cũng đang quản lý và/
hoặc phục vụ 22 nhà dưỡng lão, trung tâm khuyết tật và cô
nhi viện, trong đó có đến 9 cơ sở thuộc các hội dòng ở Giáo
phận Bùi Chu.
Các dòng ngoại sinh có 12 phòng khám và phát
thuốc, thuộc 3 đơn vị là Phao Lô Đà Nẵng, MTG Tân Lập, Đa
Minh Rosa Lima. Dòng Salésien Don Bosco có một trung tâm
giúp các em khuyết tật ở Hà Nội.
Ngoài ra, định kỳ hay thường xuyên, các dòng
đều có các hoạt động bác ái giúp đỡ người nghèo, thăm viếng,
giúp đỡ người già, người bệnh tại tư gia hay các trung tâm
xã hội. Các hoạt động này được thực hiện động lập hay liên
kết với các tập thể và các nhân khác.
Nói chung vì nhiều lý do, quy mô hoạt
động bác ái của các dòng tại Miền Bắc còn hết sức khiêm tốn
và thường chỉ có tính “thời vụ”.
2.5.3. Hoạt động giáo dục
Các dòng tu nội sinh đang phụ trách 36
trường mẫu giáo và trung tâm dạy nghề. Số trường mấu giáo
phần lớn mang danh là các nhóm trẻ gia đình. Số trung tâm
dạy nghề thường có quy mô nhỏ bé và thường chỉ dạy nghề may
là chủ yếu. Các dòng ngoại sinh có 7 trường mẫu giáo và 3
trung tâm dạy nghề của Dòng Salésien Don Bosco, Phao Lô Đà
Nẵng và của Nữ Phan Sinh Thừa sai. Nói chung đều có quy mô
nhỏ.
2.5.4. Hoạt động truyền giáo
Hoạt động truyền giáo của các dòng tu ở Miền
Bắc rất yếu. Hầu như nỗ lực của các dòng tu là phục vụ số
giáo dân có đạo chứ không phải là nổ lực truyền giảng Tin
mừng cho số giáo dân chưa biết Chúa. Nhiều dòng không phụ
trách điểm truyền giáo nào. Theo thống kê, thì có 66 điểm
truyền giáo chuyên nghiệp thuộc 5 đơn vị, trong đó Dòng Nữ
Thừa sai Bác ái Vinh chiếm 53. Đối với các dòng ngoại sinh,
chỉ có Dòng MTG Tân Lập là có 7 điểm truyền giáo.
Tuy nhiên, nếu hiểu điểm truyền giáo ở đây
là nơi có các tu sĩ cư trú và họat động của các tu sĩ chủ
yếu là nhằm tiếp cận những người chưa biết Chúa, bằng những
cách thức khác nhau, nhằm giúp họ đón nhận Tin mừng, thì
không còn được mấy điểm. Sức năng động truyền giáo của các
dòng tu ở Miền Bắc cũng như Giáo Hội Miền Bắc là rất yếu.
2.5.5. Các hoạt động khác
Đối với các dòng nội sinh Đan viện Châu Sơn
có cơ sở giúp tĩnh tâm chuyên nghiệp, còn lại hầu hết các
dòng nữ ở Miền Bắc đều tham gia vào một số các hoạt động
khác của Giáo hội địa phương như : Mục vụ Giới trẻ, Mục vụ
Giáo lý, làm văn phòng hay làm nội trợ ở các toà giám mục và
chủng viện.
Các dòng nữ ngoại sinh ở Miền Bắc cũng có một số tham gia
vào công việc nội trợ, giúp các TGM và chủng viện như Đa
Minh Lạng Sơn, Phao lô Thiện Bản. Trong khi công việc tông
đồ của một số tu sĩ các dòng nam ngoại sinh là giảng dạy
chủng viện, linh hướng và giúp tĩnh tâm cho các đối tượng
khác nhau. Hiện có 6 linh mục dòng thuộc 5 đơn vị tham gia
giảng dạy chủng viện ở Miền Bắc.
3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN VƯỢT QUA
Ngay từ khi Tin mừng bắt đầu được rao giảng ở Miền Bắc vào thế kỷ XVI,
các dòng tu đã xuất hiện trong vùng đất này và liên tục tồn
tại cho đến nay và đã có đóng góp rất nhiều cho Giáo Hội.
Trải qua nhiều thăng trầm khác nhau, hiện nay các dòng tu ở
đây đang bước bước vào một giai đoạn phát triển có nhiều hứa
hẹn. Để các dòng tu ở đây được phát triển bền vững và có
những đóng góp tích cực cho Giáo Hội, theo chúng tôi, các
dòng cần lưu tâm một số phương diện sau đây:
Về phương diện hiện diện: Các dòng nội sinh nên tìm cách mở
rộng sự phát triển ra khỏi giáo phận mà mình đã khai sinh.
Các dòng ngoài Giáo tỉnh nên xúc tiến thành lập các cộng
đoàn ở Miền Bắc. Biết ra Bắc dòng mình có thể sẽ nghèo đi và
gặp khó khăn hơn, nhưng nhờ thế mà dòng mình có cơ may phát
triển và Giáo Hội Miền Bắc sẽ có cơ may hồi sinh nhanh hơn
và trở nên năng động hơn. Vì quy luật tác động của kinh tế,
văn hoá và tôn giáo hôm nay trên đất nước ta là con đường
“Bắc tiến”. Đi theo đúng quy luật, là đi đúng ý Chúa và đấy
là con đường của sự phát triển.
Về phương diện nhân sự:
Hiện tại, trong các dòng nội sinh, số người trẻ không những
nhiều hơn các thành viên lớn tuổi mà còn là những người
thường được đào tạo bài bản hơn, thức thời hơn, do đó, các
dòng nội sinh cần từng bước trẻ hoá hàng ngũ lãnh đạo. Nếu
không được trẻ về tuổi tác thì ít ra cũng trẻ về tinh thần.
Một số dòng đã thực hiện được điều này và theo chúng tôi
thấy các đơn vị ấy rõ ràng có sự phát triển khả quan hơn và
có sự năng động tông đồ hơn các đơn vị khác.
Về phương diện
văn hoá và chuyên môn:
Giáo Hội Miền Bắc rất thiếu những người có chuyên môn trong
các lĩnh vực khoa học, y tế, giáo dục, luật pháp, nghệ
thuật, truyền thông, kỹ thuật, phát triển cộng đồng, v.v.
Khi nảy sinh những nhu cầu liên quan đến những lãnh vực trên
đây, Miền Bắc rất khó kiếm người có đủ trình độ chuyên môn
để cộng tác làm việc, đặc biệt là các tu sĩ. Do đó, cần gia
tăng trình độ văn hoá cho các thành viên, mạnh dạn tạo điều
kiện cho các tu sĩ nam nữ đi học trung học chuyên nghiệp,
cao đẳng và đại học ở trong và ngoài nước và mạnh dạn cho
các thành viên được phục vụ chuyên nghiệp trong lĩnh vực
chuyên môn của mình.
Về phương diện kinh tế: Các cá
nhân cần vượt qua tâm thức đi tu mình chỉ lo chuyện thiêng
liêng, còn chuyện vật chất “có Chúa lo”, hoặc chí ít “có
nhà dòng lo”, có “bề trên lo”. Các hội dòng cần mạnh dạn học
tập phương pháp sản xuất, kinh doanh và tìm kiếm các nguồn
trợ giúp phát triển nhằm bảo đảm sự ổn định và độc lập kinh
tế, để có thể tu tốt hơn, phục vụ tốt hơn và truyền giáo
tích cực hơn.
Về phương diện tông đồ: Các dòng
cần gia tăng các hoạt động bác ái xã hội nhắm đến các đối
tượng bị bỏ rơi hơn cả như trẻ mồ côi, người khuyết tật,
bệnh nhân HIV-AIDS, người già cả neo đơn, v.v, vì đây là
lãnh vực các tổ chức của nhà nước ở Miền Bắc làm rất yếu kém
trong khi các đối tượng khốn khổ cần phục vụ lại nhiều. Trên
hết mọi công tác, các dòng cần chú trọng hơn nữa tới các
hoạt động truyền giáo, vì dường như các dòng thường quan
tâm nhiều hơn đến mục vụ giáo xứ, đến công tác bác ái xã
hội.
Về phương diện đào tạo: Các dòng cần đào
tạo nhân sự theo hướng phục vụ cho sứ vụ truyền giáo của
Giáo Hội. Nên tạo điều kiện cho càng nhiều
chị em đi học thần học càng tốt, để gia tăng chiều sâu đức
tin, làm nền tảng cho đời sống tu đức và gia tăng khả năng
phục vụ của chị em. Cũng nên tích cực tìm cách gửi các thành
viên có khả năng đi học về các lãnh vực chuyên môn ở ngoại
quốc, để đáp ứng như cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu đào tạo
của hội dòng.
Về phương diện
sức khoẻ: Phận nghèo nên vấn đề giáo dục thể chất
của các dòng ở Miền Bắc hầu như chưa có gì. Chỉ trông vào
sức khoẻ tự nhiên Chúa ban. Hiện tượng thường thấy là lúc
trẻ thì suy dinh dưỡng, khi vào tuổi trung niên bắt đầu bệnh
tật. Tuổi thọ thấp. Vì thế cần phải có chế độ giáo dục thể
chất thế nào để cải thiện tình hình. Vấn đề này cần gắn liền
với việc xem lại khẩu phần ăn, chương trình cầu nguyện, làm
việc, học tập và luyện tập thể dục thể thao trong các hội
dòng nội sinh.
Về phương diện tu đức: Cần phải học hỏi
kế thừa những truyền thống tu đức có giá trị còn tồn tại
trong Giáo Hội Miền Bắc, tuy nhiên cũng cần can đảm loại bỏ những
kiểu cách ứng xử hạ giá nhân phẩm, ấu trĩ, không thích hợp
với tinh thần tu hành của Giáo Hội thời hậu Vatican II, tiếp
thu tinh thần tu đức dựa trên nền tảng là giáo huấn của
Thánh Kinh, phù hợp với văn hoá và văn minh của thời đại,
tạo sức năng động thừa sai của cộng đoàn và của từng thành
viên.
Về phương diện đối ngoại:
Mức độ gắn bó với các đấng bản quyền giáo phận và các vị đại
diện giám mục Đặc trách Tu sĩ là điểm nổi bật của các
dòng Miền Bắc. Tuy nhiên, để có thể tu trì và phục vụ tốt
hơn, các dòng cũng cần tìm cách gia tăng giao tiếp với các
tổ chức trong nước và nước ngoài, nhất là các tổ chức bác ái
xã hội phi chính phủ. Tiếp theo, các dòng cũng phải giao tiếp với các cơ quan chính quyền để
các cơ sở xã hội và giáo dục của mình được chính quyền nhìn
nhận. Chẳng hạn được chính thức quản lý và phục vụ các trung
tâm khuyết tật hay cơ sở giáo dục của dòng được công nhận là
trường mầm non thay vì chỉ được coi là nhóm trẻ gia đình.
Sau nữa, các dòng trong giáo tỉnh cũng phải gia tăng
giao tiếp với nhau. Vì nhiều lý do lịch sử, trong
những thập niên vừa qua, các dòng ở Miền Bắc thường giao lưu
theo chiều dọc mà dường như bỏ quên mất chiều ngang, giao
lưu Bắc với Nam mà quên Bắc với Bắc. Cần biết “bán anh em xa
mua láng giềng gần”./.
Chú thích :
(1) Từ “dòng tu” chúng tôi dùng ở đây để chỉ chung các tổ chức tu trì bao gồm các dòng tu, tu hội,
tu đoàn. Chúng tôi bó buộc phải dùng như thế cho tiện trong khi trình bày.
(2) Trong bài viết này, chúng tôi dùng cách phân kỳ lịch sử theo cách phân kỳ của Ban Tổ chức
Năm Thánh 2010 thuộc HĐGMVN.
Thời bảo hộ truyền giáo ở Việt Nam được tính từ khi Tin mừng được rao giảng ở Việt Nam năm 1533
đến khi Toà Thánh lập hai giáo phận Đàng Ngoài và Đàng Trong vào năm 1659.
“Thời bảo hộ” ở đây là thời kỳ các thừa sai đến truyền giáo ở Việt Nam dưới quyền bảo trợ của Bồ Đào
Nha và các ngài thường đến từ Goa, Malacca và nhất là Macao.
Quyền bảo trợ của Bồ Đào Nha cũng như của Tây Ban Nha xuất phát từ thực lực đương thời của họ và
được Toà Thánh xác nhận qua các văn kiện ký năm 1493 và 1494. Theo đó, thế giới được chia thành hai
phần lấy kinh tuyến 30 lầm chuẩn: Phía tây cho Tây Ban Nha, phía Đông cho Bồ Đào Nha. Mỗi nước độc
quyền thương mại và truyền giáo trong vùng của mình. Luật trừ: Tây Ban Nha chiếm quần đảo Philippin
ở phía Đông và Bồ Đào Nha chiếm Brazil ở phía Tây.
(3) Nhóm NCLĐ MTG, Tiểu sử -bút tích Đức cha Phêrô Maria Lambert de la Motte,
Lưu hành nội bộ, 1998, tr.28-30.
(4) Đỗ Quang Chính SJ, Dòng MTG trong những năm đầu, NXB An Tôn & Đuốc Sáng, tr.133-134.
(5) LM Bùi Đức Sinh, Dòng Đa Minh trên đất Việt, Sài Gòn 1995, tr.219-225.
(6) Chúng tôi dùng từ “dòng ngoại sinh” để chỉ các dòng có nhà chính ở ngoài giáo tỉnh, dùng từ
“dòng nội sinh” để chỉ các cộng đoàn có nhà chính ở trong giáo tỉnh.
(7) Xin xem bảng 1 phần phụ lục.
(8) Tỷ lệ số dòng tu/ số giáo phận này chúng tôi lấy cơ sở tính toán từ cuốn GHCGVN- Niên
Giám 2005 trong phần các tổ chức tu trì tr. 305-422 và trong cuốn Sổ tay Giáo phận TP. HCM 2008.
Có một điều khác là ở đây trong khi thống kê chúng tôi tính mỗi đan viện chúng tôi tính là một
đơn vị độc lập. Con số các đơn vị ở đây thấp hơn trên thực tế, vì ở Giáo tỉnh TP HCM là nơi có
nhiều tổ chức tu trì đã hiện diện nhưng chưa có tên trong niên giám hay sổ tay.
(9) Xin xem bảng 2 phần phụ lục
(10) Xin xem bảng 3 và 4 phần phụ lục
(11) Xin xem bảng 5 phần phụ lục
(12) Xin xem bảng 6 và 7 phần phụ lục
(13) Xin xem bảng 8 phần phụ lục
(14) Xin xem bảng 9 phần phụ lục
(15) Xin xem bảng 10 phần phụ lục
Xem Phụ lục 1
2 3
4 5
6 7
8 9
10 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Sách :
1. Đỗ Quang Chính, SJ, Dòng Mến Thánh Giá trong những năm đầu, NXB An Tôn & Đuốc Sáng, 2007.
2. Đỗ Quang Chính, SJ, Hai giám mục đầu tiên tại Việt Nam, NXB An Tôn & Đuốc Sáng, 2007.
3. Đỗ Quang Chính, SJ, Dòng Tên trong xã hội Đại Việt, NXB An Tôn & Đuốc Sáng, 2007.
4. Cao Thế Dung, Việt Nam Công giáo sử tân biên, quyển I, II, III, Cơ sở Dân Chúa xuất bản năm 2002 và 2005.
5. LM Roco Nguyễn Tự Do, Lịch sử Giáo phận Thanh Hoá, Tài liệu nghiên cứu nội bộ, 2002.
6. LM Roco Nguyễn Tự Do, Hành hương Công giáo Việt Nam, Bản thảo tài liệu đệ trình các vị giám mục Việt Nam năm 2005.
7. LM Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, quyển I, NXB Hiện Tại-1959.
8. LM Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử, quyển I, Cứu Thế Tùng Thư, USA-CA, 1997.
9. LM Phạm Phúc Khánh, Lược sử Địa phận Lạng Sơn, Paris, 1993.
10. Guy Marie Oury, Giáo hội Việt Nam thời các thành tử vì đạo, NXB Le Sarment-Fayard, 1988,
11. Alexandre de Rhodes, Hành trình và truyền giáo, Tủ sách Đại kết UBĐKCG TP HCM, 1994.
12. LM. Bùi Đức Sinh, Giáo Hội Công giáo ở Việt Nam, Phụ Chương 1975-2000, Calgary-Canada, 2001.
13. LM Bùi Đức Sinh, Dòng Đa Minh trên đất Việt, Sài Gòn 1995.
14. LM. JMT. Nguyễn Thế Thoại, Công giáo trên quê hương Việt Nam, quyển 1 & 2, Lưu hành nội bộ, 2001.
15. Lm. Augustinô Nguyễn Văn Trinh, Lịch sử Giáo Hội Việt Nam, Tập I, II & III, Đại Chủng viện Thánh Giuse-1994.
16. Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ, Lịch sử Giáo phận Phát Diệm, Đắc Lộ Tùng Thư, Paris, 2001.
17. Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Lược sử Địa phận Hà Nội 1626-1954, 1994.
18. Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Giáo sĩ Đắc Lộ Alexandre de Rhodes 1593-1660.
19. Nhóm Nghiên cứu Linh đạo MTG, Tiểu sử-Bút tích Đức cha Phêrô-Maria Lambert de la Motte, Lưu hành nội bộ, 1998.
20. Sử ký Địa phận Trung, in tại Phú Nhai Đường, 1916.
Kỷ yếu - Niên Giám - Sổ tay :
21. Kỷ yếu mừng 70 năm thành lập Đan viện Thánh Mẫu Châu Sơn, Nho Quan, Ninh Bình 1936-2006.
22. Kỷ yếu Giáo phận Bùi Chu, Mừng 150 năm thành lập Giáo phận Bùi Chu 1848-1998.
23. Văn phòng Tổng Thư ký HĐGM Việt Nam, Niên giám Giáo hội Công giáo Việt Nam 2005, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2005.
24. Toà TGM TP.HCM, Sổ tay 2008.
25. Số tay giới thiệu các tổ chức tu trì hiện diện trong Tổng Giáo Phận Hà Nội, Toà TGM HN, 2008.
Báo cáo :
26. Anna Đậu Thị Nhung, Báo cáo tổng quát hiện trạng Dòng MTG Vinh, ngày 17.03.2008.
27. Maria Nguyễn Thị Tuyết, Báo cáo tổng quát hiện trạng Dòng MTG Thanh Hoá, ngày 10 03.2008.
28. Maria Phan Thị Mai, Báo cáo tổng quát hiện trạng Dòng MTG Phát Diệm, ngày 20.03.2008.
29. Hyacinta Phạm Thuý Cậy, Báo cáo tổng quát hiện trạng Dòng MTG Kiên Lao, ngày 26.03.2008.
30. Maria Trịnh Thị Hoa, Báo cáo tổng quát hiện trạng Hội Dòng MTG Hà Nội, ngày 13.03.2008.
31. Maria Mai Thị Hà, Báo cáo tổng quát hiện trạng Hội Dòng MTG Hưng Hoá, ngày 27.03.2008.
32. Maria Đặng Thị Ánh Tin, Báo cáo tổng quát hiện trạng Hội Dòng Đa Minh Thái Bình, 28.03.2008.
33. Imelda Ngô Thị Huyền Nhiệm, Báo cáo tổng quát hiện trạng Hội Dòng Đa Minh Bùi Chu, ngày 27.03.2008.
34. Jeane Bosco Đặng Thị Dung, Báo cáo tổng quát hiện trạng Hội Dòng Mân Côi Bùi Chu, ngày 30.03.2008.
35. Maria Nguyễn Thị Thục, Báo cáo tổng quát hiện trạng Hội Dòng Trinh Vương Bùi Chu, ngày 24.03.2008.
36. Maria Mai Thị Gương, Báo cáo tổng quát hiện trạng Hội Dòng Mẹ Thăm Viếng, ngày 25.03.2008.
37. Maria Phạm Thị Thơm, Báo cáo tổng quát hiện trạng Hội Dòng Thừa sai Bác ái Vinh, ngày 23.03.2008.
38. Anna Nguyễn Thị Đĩnh, Báo cáo tổng quát hiện trạng Tu Hội Đức Mẹ Hiệp Nhất, ngày 30.03.2008.
39. Têrêsa Tạ Thị Liên, Báo cáo tổng quát hiện trạng Tu hội Tận Hiến, ngày 10.04.2008.
40. Anna Lương Thị Mấp, Báo cáo tổng quát hiện trạng Tu hội Chúa Hiện Diện, ngày 10.04.2008.
41. Maria Trần Thị Xuân, Báo cáo tổng quát hiện trạng Tu đoàn Nữ Truyền tin Hà Nội, ngày 28.03.2008.
42. Antôn Trần Cao Tích, Báo cáo tổng quát hiện trạng Tu đoàn Nam Truyền Tin Hà Nội, 04.2008.
43. M. Bernadino Đinh Văn Thái, Báo cáo tổng quát hiện trạng Đan Viện Thánh Mẫu Châu Sơn, Ninh Bình, ngày 12.03.2008.
44. Martinô Nguyễn Xuân Hoàng, Báo cáo tổng quát hiện trạng Dòng Bái Ái Thánh Gioana Antida Thouret, ngày 14.04.2009.
|