"Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.” (Mt 5,14)

ĐỀ TÀI 1

ĐỨC MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI
MẪU GƯƠNG CỦA NGƯỜI TU SĨ
Qua lời dạy của ĐTC Benedictô XVI


Gm Giuse Hoàng Văn Tiệm
Giám mục giáo phận Bùi Chu
Chủ tịch Uỷ Ban Tu Sĩ


Kính thưa cộng đoàn,

Đầu tiên, con xin gửi đến hết thảy mọi người của Đại Hội lời chào thăm nhiệt tình và lời cầu chúc: bình an của Chúa ở cùng tất cả chúng ta.

Mục đích của Đại Hội Tu Sĩ lần II của chúng ta không nhất thiết là để nghe những bài thuyết trình và thảo luận vấn đề liên quan, nhưng nên coi đây là một cuộc gặp gỡ hiếm có để chúng ta sống tinh thần của người tu sĩ ở một nơi xa xôi Bùi Chu thuộc đồng bằng Bắc bộ vốn nghèo khó và dốt nát này. Ngay việc nhìn thấy các đại biểu của các giáo phận và của các Dòng Tu nơi đây cũng là điều quí hoá lắm rồi.

Vì thế chúng ta hãy sống 2 ngày rất thoải mái và bình an dưới cách tay dìu dắt của Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, mà Giáo phận Bùi Chu chúng con mới khai mạc Năm Thánh Kỷ Niệm 150 năm Dâng Hiến Giáo Phận cho Đức Mẹ Vô Nhiễm (1857-2007).

Hãy trao cho những nụ cười, những lời nói chân tình; để qua cuộc gặp gỡ này chúng ta được thúc đẩy sống đời tu mãnh liệt hơn; và cùng cảm nghiệm rằng bên cạnh chúng ta còn có hơn 10 ngàn anh chị em tu sĩ tại Việt Nam chúng ta cũng đang tích cực sống đời tận hiến cho Chúa vì Nước Trời và vì tha nhân.

Ngày 08 tháng 12 năm 2005, Đức Thánh Cha Beneditô XVI đã giảng một bài về Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội tại quảng trường Tây Ban Nha trong thành phố Rôma. Người nói:

“Anh chị em thân mến, lần đầu tiên tôi đến đây, như người kế vị Thánh Phêrô, quì dưới chân tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm tại quảng trường Tây Ban Nha này, để thực hiện cuộc hành hương mà nhiều vị tiền nhiệm của tôi đã làm. Tôi cảm thấy rằng lòng tôn kính và quý yêu của Giáo Hội tại thành phố Rôma và trong toàn thế giới đang đi theo Tôi. Tôi mang theo với Tôi những lo âu và hy vọng của nhân loại thời đại chúng ta và đem đặt dưới chân của Mẹ trên trời Mẹ Đấng Cứu Thế.

Trong ngày đặc biệt này, vì kỷ niệm 40 năm kết thúc Công đồng Vaticanô II, tôi đem tâm trí nhớ lại ngày 08 tháng 12 năm 1965 vào chính lúc kết thúc bài giảng của buổi cử hành Thánh Thể tại Quảng trường Thánh Phêrô, vị Tôi Tớ Chúa- Đức Phaolô VI đã đưa tâm trí suy tưởng tới Đức Maria “Mẹ Thiên Chúa và Mẹ thiêng liêng của chúng ta… là tạo vật mà trong đó hình ảnh của Thiên Chúa chiếu tỏa ra một cách trong sáng tuyệt đối, không hề vương bợn nhơ gì, như trong các tạo vật khác của nhân loại”. Rồi Đức Thánh Cha Phaolô VI tự hỏi: “Chúng ta lại không đem mắt nhìn tới Người Nữ khiêm hạ này, là Chị của chúng ta và cũng là Mẹ Thiên quốc của chúng ta và Nữ Hoàng của chúng ta, là tấm gương sáng ngời và thánh thiện của vẻ đẹp vô tận, để bắt đầu công việc của chúng ta sau Công Đồng sao? Vẻ đẹp của Đức Maria Vô Nhiễm lại không trở nên cho chúng ta như mẫu mực gợi hứng cho chúng ta sao? Nên gương cho chúng ta về niềm hy vọng tăng thêm sức mạnh sao?”. Và Đức Thánh Cha kết luận: “Chúng ta suy nghĩ như thế cho chúng ta và cho anh chị em; và đây là lời chào cao đẹp nhất và nếu Chúa muốn, lời chào có giá trị nhất!” “Insegnamento di Paolo VI, III, 1965, p.746). Đức Phaolô VI đã tuyên bố Đức Maria là “Mẹ của Giáo Hội”, và Ngài trao phó cho Đức Mẹ trong tương lai việc áp dụng phong phú các quyết định của Công Đồng.

Nhớ lại bao nhiêu biến cố đã xẩy ra trong 40 năm nay, làm sao lại không làm sống lại hôm nay những giai đoạn đã ghi đậm vào Giáo Hội trong hành trình của mình trong thời gian này? Đức Mẹ đã nâng đỡ các vị Mục tử trong suốt 40 năm nay và trước hết là các Người Kế Vị Thánh Phêrô trong sứ vụ thật đòi hỏi của các Ngài trong việc phục vụ Phúc Âm; Đức Mẹ đã hướng dẫn Giáo Hội về việc hiểu đúng và áp dụng đúng các văn kiện của Công Đồng. Vì thế, Tôi nói thay cho tất cả Cộng đồng Giáo hội, để cám ơn Đức Trinh Nữ rất thánh và Tôi thưa lên với Mẹ bằng chính các tâm tình đã làm sống động các Nghị phụ của Công Đồng, chính các Ngài đã dành cho Đức Mẹ trong chương thứ VIII của Hiến chế về Giáo Hội “Ánh sáng muôn dân”, khi nhấn mạnh mối giây liên kết chặt chẽ không thể dứt nổi đã nối kết Đức Trinh Nữ với Giáo Hội”.

Qua đoạn văn trên đây, Đức Thánh Cha nói đến một giai đoạn lịch sử 40 năm sau Công Đồng Vat. II, Giáo Hội trong bàn tay của Đức Mẹ. Người dẫn lời Đức Thánh Cha Phaolô VI tôn vinh Đức Maria trong buổi lễ kết thúc Công Đồng “Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng. Đức Maria là tạo vật được lồng vào hình ảnh của Đấng Tác thành, từ đó phát sinh ra một luồng ánh sáng trong ngần không hề có nơi tạo vật”.

Từ vị trí cao sang được lồng hình với Thiên Chúa, Đức Thánh Cha đưa Đức Maria về với vị trí “Người Nữ Tì khiêm hạ” để như muốn lồng hình ảnh loài người tội lỗi chúng ta vào trong hình ảnh của Người. Ở đây Đức Thánh Cha đưa ra một hình ảnh trái ngược của Đức Maria, vừa mini, vừa maxi vừa là Mẹ Thiên Chúa vừa là người Nữ Khiêm Hạ. Từ đó Đức Thánh Cha đặt ra câu hỏi: “Vẻ đẹp của Đức Maria Vô Nhiễm lại không trở nên mẫu mực gợi hứng cho chúng ta sao?” Hay nói qua từ ngữ của hôm nay, Đức Maria xinh đẹp lại không trở nên thời trang của chúng ta sao? Sau khi đã công bố: Đức Maria là Mẹ Giáo Hội, Đức Thánh Cha đã trao phó Giáo Hội hậu Công Đồng cho Người.

- Từ quảng trường Tây Ban Nha ở Rôma, Đức Thánh Cha Benedictô XVI dẫn chúng ta đến Lộ Đức, nhân dịp kỷ niệm 150 năm Đức Mẹ hiện ra tại đây.

Ngày 11 tháng 2 năm 1858 tại hang Massabielle, gần Lộ Đức. Biến cố lạ lùng này làm cho nơi này, ở vùng dãy núi Pyréneés phía bên nước Pháp, thành một trung tâm hành hương của thế giới và là nơi đào sâu lòng sùng kính Đức Mẹ Maria. Tại nơi này, từ 150 năm nay, vang lên lời kêu gọi của Đức Mẹ kêu mời tín hữu hãy cầu nguyện và ăn năn đền tội, được coi như tiếng vang vọng liên tục lời kêu mời của Chúa Giêsu khi khai mạc việc rao giảng về Nước Trời: “Thời giờ đã viên mãn và Nước Thiên Chúa đã gần đến: anh em hãy thống hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Đền thánh này, ngoài ra còn trở thành đích điểm của các cuộc hành hương của các người bệnh tật, đến đây để nghe lời Mẹ Maria nói, được khích lệ chấp nhận các đau khổ và dâng lên để cứu rỗi thế giới, khi họ kết hợp các đau khổ của họ với đau khổ của Chúa Kitô chịu đóng đinh.”

Chính do mối liên hệ giữa Lộ Đức và các đau khổ con người, mà 15 năm nay, Vị Giáo Hoàng đáng kính mến của chúng ta, Đức Gioan Phaolô II đã muốn rằng trong dịp mừng lễ Đức Mẹ Lộ Đức, người ta cũng cử hành Ngày thế giới của Bệnh Nhân. Năm nay trọng điểm của buổi cử hành này là thủ đô Seoul của Nước Korea, tại đó Vị Đặc sứ của Tôi, Đức Hồng Y Javier Lozano Barragan, Chủ tịch Hội đồng Toà thánh về mục vụ sức khoẻ sẽ đại diện Tôi trong buổi lễ. Tôi gửi tới Ngài và tất cả những ai tham dự vào buổi cử hành lời chào thân thương của tôi. Tôi muốn gởi tới các người phục vụ trong ngành y tế trên khắp thế giới lời chào của Tôi, và đồng thời ý thức về tầm quan trọng công việc của họ khi phục vụ bệnh nhân trong thế giới chúng ta…

Một lần nữa, Đức Thánh Cha diễn tả lại cho chúng ta hình ảnh Người Nữ Khải Huyền xinh đẹp của Lộ Đức, và đưa Đức Mẹ đến với những khổ đau của con người. Hàng ngàn cây nạng để bên hang đá Lộ Đức là chứng tích của lòng thương xót Chúa qua bàn tay từ mẫu của Mẹ. “Thấy đám đông, Chúa chạnh lòng xót thương, vì họ lầm than vất vưởng…” (Mt 9,36). Cùng một luật điệu như vậy, Đức Mẹ đã chạnh lòng xót thương đám đông tội lỗi ốm đau nghèo khó, mà ra tay cứu chữa.

Đức Thánh Cha Beneditô XVI cũng muốn phó thác cho Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội các bệnh nhân, những người đang đau khổ thể xác và tâm hồn trên khắp thế giới, trong lời cầu nguyện của Kinh Truyền Tin ngày 12.2.2007 (Os. Rom 12.2.2007).

Nơi khác Ngài nói:
“Tất cả các con, chiều nay Cha trao phó cho Đức Trinh Nữ Maria, là người sau khi đã chịu các đau khổ không thể tả được, đã được đưa về trời, ở đó Mẹ chờ đợi chúng ta, và chúng ta cũng hy vọng một ngày kia sẽ được chia sẻ vinh quang của Người Con Thiên Chúa, niềm vui mừng vô cùng” (Os. Rom 13.2.2007).

Ngày 2.2.2007 lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chọn lễ này là “Ngày của đời sống Thánh Hiến”, Đức Thánh Cha XVI đã ngỏ lời với các tu sĩ:

“Anh chị em thân mến, ngày lễ mà chúng ta mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta rằng chứng tá của các con về Tin Mừng, để trở nên chứng tá thực sự hữu hiệu, phát khởi do một sự chọn lựa hoàn toàn trước sáng kiến của Thiên Chúa Đấng đã thánh hiến chúng con cho mình với một hành động yêu thương đặc biệt. Như cụ già Simeon và Bà Anna luôn mong mỏi được nhìn thấy Đấng Cứu Thế trước khi nhắm mắt lìa đời, và đã nói về Ngài cho tất cả những ai mong chờ ơn cứu độ tại Giêrusalem (x. Lc 2,26.38), cũng thế ngay cả trong thời đại chúng ta, nhất là giữa giới trẻ, phải làm lan tỏa ra nhu cầu được gặp gỡ Thiên Chúa. Những ai được Thiên Chúa tuyển chọn sống đời thánh hiến phải làm cho lòng mong muốn siêu nhiên này trở thành của mình theo một cách thế nhất định. Quả vậy, nơi họ chỉ có một điều mong chờ; đó là mong chờ Nước Thiên Chúa; chớ gì Thiên Chúa thống trị ý chí, tâm hồn chúng ta và trong thế giới. Nơi họ bốc cháy lên sự khát khao tình yêu, mà chỉ có Đấng vĩnh hằng mới làm thỏa mãn được. Với gương của họ các người thánh hiến công bố cho một thế giới thường hay bị lạc hướng, nhưng thực ra thì họ lại đang đi tìm một ý nghĩa, để nhận ra rằng Thiên Chúa là Chúa của sự hiện hữu, và nhận ra rằng ơn thánh của Ngài “quý giá hơn sự sống” (Tv 62,4). Khi chọn sống vâng lời, khó nghèo và thanh tịnh vì Nước trời, họ cho thấy rằng tất cả mọi bám víu và yêu thích các sự vật và con người không thể nào làm thỏa mãn hoàn toàn con tim của họ; họ cũng biểu lộ cho thấy rằng các của cải trần gian là sự mong chờ lâu dài nhiều hay ít cuộc gặp gỡ “mặt đối mặt” với vị Quân Phu thiên linh, một sự mong chờ mà họ phải luôn sống với một con tim luôn tỉnh thức để sẵn sàng nhận ra Ngài và đón tiếp Ngài khi Ngài đến.

Vậy, theo bản tính, đời sống thánh hiến quan hệ tới một lời đáp trả hoàn toàn, sau hết, vô điều kiện và với lòng hăng say trước Thiên Chúa Đấng kêu họi họ (x. Tông huấn Đời Thánh Hiến, s. 17). Và khi người ta từ bỏ tất cả để đi theo Chúa Kitô, khi người ta dâng hiến cho Ngài những gì họ rất quý mến cho dù phải đương đầu với hy sinh, lúc đó, như đã xẩy ra với Thầy Chí Thánh, thì chính con người thánh hiến đang dõi theo bước chân của Ngài, họ sẽ tất nhiên trở nên “dấu chỉ của sự đối nghịch”, bởi vì cách họ suy tưởng và cách họ sống thường là ngược lại với lý luận của thế gian, như người ta thấy trong các phương tiện truyền thông xã hội, hầu như là luôn cho thấy điều này. Người ta chọn Chúa Kitô, nhưng đúng hơn “người ta để cho Ngài chiếm hữu lấy họ” một cách tận căn không dành lại điều gì cho mình. Trước một sự can đảm như thế, biết bao nhiêu người khát khao chân lý bị khích động và được lôi kéo bởi những ai không ngần ngại trao ban sự sống mình, chính sự sống mình, để chiếm đoạt lấy điều họ tin. Đây không phải là một lòng trung thành tận căn theo Tin Mừng với Đấng mà mỗi người thánh hiến được kêu gọi, ngay trong cả thời đại chúng ta hay sao? Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa vì biết bao nhiêu nam nữ tu sĩ, biết bao nhiêu người thánh hiến, trong mọi góc của thế giới, tiếp tục hiến dâng một chứng từ cao cả nhất và trung thành do tình yêu với Thiên Chúa và với anh chị em đồng loại, một chứng từ mà không phải là ít lần đã thấm máu tử đạo. Chúng ta cũng cảm tạ Thiên Chúa vì các gương này còn tiếp tục gợi lên trong tâm hồn nhiều người trẻ ước muốn theo Chúa Kitô suốt đời trong cách thế thân mật và hoàn toàn.

Anh chị em thân mến, xin đừng bao giờ quên rằng đời sống thánh hiến là một hồng ân từ Thiên Chúa, và chính Ngài hướng dẫn đời sống này tới mục tiêu cách tốt đẹp theo dự định của Ngài. Điều này chắc chắn là Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta tới đích tốt đẹp, cho dù những yếu đuối, điều chắn chắn này phải trở nên sự nâng đỡ cho các con, làm cho các con khỏi cơn cám dỗ đưa tới tình trạng nản lòng trước những khó khăn không ngờ trước của cuộc sống và trước rất nhiều thách đố của thời đại mới này. Quả thế, trong thời đại khó khăn mà chúng ta đang sống có một số Hội Dòng cảm thấy mình bị lạc lõng như vô định vị những yếu đuối gặp phải trong Dòng và vì những cản trở họ gặp phải trong khi thi hành sứ mạng của mình tới cùng. Con Trẻ Giêsu mà hôm nay được đem vào Đền Thánh dâng tiến Thiên Chúa đang thực sự sống giữa chúng ta hôm nay và một cách vô hình nâng đỡ chúng ta để chúng ta hợp tác với Ngài cách trung thành cho công việc cứu độ. Ngài không bỏ rơi chúng ta.

Đức Thánh Cha nói về vai trò của ông già Simeon và bà Anna luôn mong mỏi được nhìn Thấy Đấng Cứu Thế trước khi lìa đời, và công bố về Đấng Cứu Thế cho tất cả những ai đang mong chờ ơn Cứu độ tại Giêrusalem (Lc 2,26-38). Mượn tư tưởng này Đức Thánh Cha mời gọi các tu sĩ hãy có lòng khao khát thánh thiện công bố Đấng Cứu Thế cho hết mọi người. Hãy làm cho sự khát khao tình yêu này cho mọi người đang sống trên thế giới, một thế giới lạc hướng. Hãy làm cho thế giới biết rằng có Thiên Chúa đang hiện diện. Bản tính của đời sống thánh hiến là đáp trả vô điền kiện lời mời gọi hăng say dấn thân vì Nước Trời. Cho dù gặp phải nhiều khó khăn, bị chống đối cùng với những sự yếu đối và những thách đố.

ĐỊNH VỊ NGƯỜI TU SĨ

1. Người tu sĩ trong Giáo Hội

Tính cách chứng tá của người tu sĩ quan trọng như vậy, nên người tu sĩ cũng ý thức mình có một vai trò quan trọng, được Giáo Hội và mọi người công nhận.

Qua bài huấn từ ngày 2-2-2006, Đức Thánh Cha muốn cho mọi tu sĩ hiểu biết và ý thức về bậc sống này, và cũng để từ đó tìm kiếm và nuôi dưỡng các ơn gọi mới cho đời sống thánh hiến. Thường người ta nhìn ra người tu sĩ qua áo dòng và các công việc từ thiện. Vậy, chỉ có thế hay sao ? Chúng ta phải hiểu biết và kính trọng đời sống tu trì làm sao? Thường thường các linh mục có vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm và hướng dẫn ơn gọi tu sĩ, nhưng chính các ngài cũng không biết nhiều về ơn gọi này. Chương trình học tập trong các chủng viện cũng không có môn học về đời sống thánh hiến.

Bộ Giáo Luật 1917, cuốn II phần II nói về người tu sĩ, và đặt bậc tu sĩ nằm kẹt giữa bậc giáo sĩ và giáo dân. Bộ Giáo luật 1983, quyển II phần III, đặt đời sống tu trì trong toàn thể dân Chúa, trong đó bàn về người tín hữu nói chung, rồi tới phần phẩm trật và các tu sĩ. Ở đây chúng ta thấy có một lối nhìn mới về đời sống thánh hiến.

Còn sách Giáo Lý Công Giáo (1992) có phần nói về đời sống thánh hiến trong các số 873, 914-933, 944-945. Ở đây chúng ta nhận thấy có những thay đổi tiến bộ lớn trong Giáo Hội. Trong tài liệu Công Đồng chung Vat. II, đời sống thánh hiến được nói đến trong Hiến Chế về Giáo Hội “Ánh sáng muôn dân” ở chương VI. Bên cạnh đó còn có sắc lệnh “Đức Ái Hoàn Hảo”. Đây là những tài liệu căn bản học hỏi về đời sống thánh hiến. Hiện nay tại Rôma có một Học Viện Giáo Hoàng về đời sống thánh hiến “Claretianum”. Ở Manila Phi Luật Tân cũng có Học Viện ICLA về đời sống thánh hiến cho vùng Á Châu.

2. Người tu sĩ đi tìm Chúa

Trong bài huấn dụ cho tu sĩ Rôma ngày 10-12-2005 Đức Thánh Cha nói tới “sự khát khao Thiên Chúa”. Đối với người tu sĩ khát Thiên Chúa là phải biết lắng nghe và yêu mến Chúa trên hết, phải dành tất cả con tim cho Ngài. Hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa và Giáo Hội là ngôn ngữ loan báo mạnh mẽ nhất và rõ ràng nhất về sự hiện diện của Thiên Chúa cho người thời đại. Phải sống thế nào để nói được rằng “định mệnh của người tu sĩ là chính Thiên Chúa”. Người lặp lại tư tưởng này rằng họ là người được thánh hiến cho Thiên Chúa, có nghĩa họ là của dâng cho Thiên Chúa rồi, họ trở thành gia nghiệp của Thiên Chúa, và Chúa là gia nghiệp của họ. Chứng từ này rất cần thiết cho thế giới vắng Chúa hôm nay.

Ngoài ra, người tu sĩ còn được Đức Thánh Cha trình bày bằng những nét khác, như là “dấu hiệu hùng biện của tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa ở giữa thế gian.” Hay là “dấu chỉ hùng biện cho sự hiện diện của Nước Chúa trong thế giới hôm nay”. Hay là “lời loan báo mạnh mẽ và rõ ràng về sự hiện diện của Thiên Chúa”. Hoặc như “cây nến sáng anh chị em chiếu toả tình yêu của Chúa Kitô là ánh sáng của thế giới”.

3. Trọn vẹn dành cho Thiên Chúa

Trọn vẹn hiến dâng về sự hiện hữu và hành động của người tu sĩ cho Thiên Chúa. Đức Thánh Cha diễn tả tư tưởng bằng cách thức khác nhau: “những người hoàn toàn hiến dâng đời mình cho Thiên Chúa”, hoặc “anh chị em hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa duy nhất”, hay là “anh chị em trao phó mình hoàn toàn trong tay Chúa Kitô”, hay là “xin Mẹ Maria rất thánh, Người Nữ thánh hiến, trợ giúp anh chị em sống trọn vẹn ơn gọi và sứ mệnh của anh chị em trong Giáo Hội vì phần rỗi thế gian”.

Đời sống thánh hiến trọn vẹn, không hề chia cắt, là sống mọi giây phút, mọi hoàn cảnh, mọi hoạt động tất cả vì Chúa. Không theo Chúa nửa vời chân trong chân ngoài. Không lơ lửng lửng lơ nhưng phải dứt khoát, không giữ lại cho mình điều gì. Sống trọn vẹn là hệ luận tất yếu một khi đặt Thiên Chúa trên hết, là Đấng có toàn quyền trên mình. Người tu sĩ thật không sống nửa vời qua ngày, họ giậm chân tại chỗ mà không hề canh tân. Từ đây dễ dàng sinh ra thuyết “tương đối hoá”, làm ảnh hưởng tới suy tư thần học, tới việc giải thích Kinh Thánh hay những phán đoán về luân lý.

4. Trung thành

Trung thành mang đến sự duy nhất của đường đi. Mọi xây đắp, mọi công trình của đời thánh hiến sẽ tan vỡ khi “đứt gánh giữa đường”.

Lý do Đức Thánh Cha kêu gọi trung thành là đời sống tràn ngập thách đố, khó khăn, thậm chí ngay cả những hình thức hoạt động tông đồ, nhiều quan điểm cũng có thể nên cớ lôi kéo người tu sĩ khỏi nếp sống tu trì. Đức Thánh Cha nói: “Anh chị em hãy tiếp tục làm chắc chắn sự trung thành của anh chị em trước những công việc với những đặc sủng của mỗi Dòng của mỗi Hiệp Hội, với những chỉ dẫn của Giáo Hội địa phương. Sự trung thành này chỉ có thể thực hiện được khi hàng ngày gắn bó với những công việc, nhất là trung thành trong lời cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa. Trung thành trong phục vụ tha nhân, trung thành với giáo huấn của Giáo Hội, bắt đầu từ giáo huấn về đời sống thánh hiến, trung thành với Bí Tích Giải Tội và Bí Tích Thánh Thể. Đó là những trợ lực giúp người tu sĩ vượt thắng khó khăn của cuộc sống hàng ngày”.

5. Đời sống chung

Đức Thánh Cha coi đời sống cộng đoàn của người tu sĩ là điều chính yếu làm nên đời thánh hiến. Người nói: “Thành phần làm nên sứ mệnh của anh chị em là đời sống cộng đoàn. Anh chị em hãy dấn thân làm nên những cộng đoàn huynh đệ.” Nhờ Tin Mừng cả những liên quan giữa con người với nhau cũng có thể biến đổi, cho thấy tình yêu không phải là một ảo mộng, nhưng là một bí mật kiến tạo một thế giới huynh đệ hơn. Sau khi mô tả tình huynh đệ thực hiện trong cộng đoàn các Kitô hữu thuở ban đầu, cho thấy “Lời Chúa được lan rộng và làm tăng số các môn đệ lên nhiều” (Cv 6,7). Như vậy việc loan báo Lời Chúa, sống Tin Mừng là xây dựng cộng đoàn huynh đệ. Càng lo phục vụ Lời thì càng tăng bác ái yêu thương. Đây là dấu chỉ của một cộng đoàn sống động tràn đầy sự hiện diện của Chúa. Người tu sĩ biểu lộ bác ái, còn cộng đoàn là trường dạy bác ái. Đức Thánh Cha nói: “Đoàn người nam nữ này được hình thành bởi Thánh Thần của Đức Kitô, biến thành những mô phạm của việc loan báo Tin Mừng, nhờ đó đời sống thánh hiến được coi như biểu hiện và trường dạy bác ai.” Vì thế, không thể có cộng đoàn dòng tu chính nghĩa, nếu thiếu bác ái yêu thương.

6. Ba lời khuyên Phúc Âm

Về ba lời khuyên Phúc Âm, Đức Thánh Cha Benedictô XVI đã dựa vào giáo huấn của Công Đồng Vat. II để nói về vấn đề này: “Công Đồng Vat. II đã nhấn mạnh việc noi gương Đức Kitô sống trong sạch, khó nghèo và vâng phục, tất cả đều hướng về việc thực hiện đức ái toàn hảo” (P.C 1).

“Anh chị em thân mến, Giáo Hội cần chứng tá của anh chị em, cần đời sống thánh hiến có khả năng, can đảm và có óc sáng tạo đương đầu với những thách đố của thời đại ngày nay. Trước sự lan tràn của thuyết hưởng thụ thì anh chị em nên chứng tá về đức khiết tịnh, biểu lộ một tâm hồn đầy vẻ đẹp và giá trị của tình yêu Thiên Chúa. Trước sự thèm muốn tiền bạc đang lan tràn và chế ngự khắp nơi, thì đời sống thanh đạm sẵn sàng phục vụ những người nghèo khó, nhắc nhớ rằng Thiên Chúa là sự giàu sang đích thực không hề tàn phai. Trước thuyết chủ nghĩa cá nhân và thuyết tương đối, làm con người nên mực thước cho chính mình, thì đời sống huynh đệ, đặt mình dưới sự định liệu của Bề Trên do vâng phục, nhờ đó mà xác tín rằng anh em đặt mình nơi Thiên Chúa, để ý của Người thực hiện nơi anh em.”

Như vậy Đức Thánh Cha đã cho ba lời khấn một ý nghĩa, một vai trò và một đặc tính.

* Ý nghĩa đó là bắt chước Chúa Giêsu sống các mối Phúc Thật.

* Đặc tính của ba lời khấn mang tính Giáo Hội, vì đó là phương thế làm cho Giáo Hội lớn lên trong Tin Mừng và giúp cho dân Chúa sống Tin Mừng. Như vậy lời khấn dòng không chỉ ở cá nhân, nhưng nó lan rộng sang sinh hoạt của Giáo Hội và làm Giáo Hội tăng trưởng và lớn lên. Từ đây đưa ta tới cái nhìn rộng rãi về ba lời khấn.

* Lời khấn giữ khiết tịnh : cho thấy một con tim nhận ra vẻ đẹp và giá trị của tình yêu Thiên Chúa, là con đường ngược chiều của thời đại đi tìm lạc thú trần gian.

* Lời khấn thanh bần: nhìn Thiên Chúa dưới cặp mắt siêu nhiên, là nguồn phong phú giàu sang vô tận; đồng thời đến với người nghèo, vì người nghèo, coi họ là gia tài của Thiên Chúa. Với bản thân lo sống giản dị đơn sơ, không tìm tiền của để hưởng thụ như người đời.

* Lời khấn vâng phục: đặt mình dưới ý chỉ của Bề Trên và coi đó là ý Chúa; hoàn toàn tín thác vào sự xếp đặt của Thiên Chúa qua trung gian con người Bề Trên và Cộng đoàn. Bỏ lối sống cá nhân chủ nghĩa.

7. Xa trần gian nhưng hiện diện trong trần gian

 Người tu sĩ được kêu gọi để sống hoàn toàn cho Chúa, nhưng lại sống giữa đời để phục vụ mọi người.

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI cũng đề cập vấn đề này cho người tu sĩ: “Thật vậy, đời sống của Chúa Giêsu, qua sự vâng phục tận tình Chúa Cha, là một bài học sống động “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Cũng vậy, sự phục vụ tận tuỵ của các người thánh hiến cho Thiên Chúa và cho anh chị em đồng loại, trở nên dấu chỉ hùng hồn cho sự hiện diện của Nước Chúa ở giữa chúng ta hôm nay.”

Sống giữa đời nhưng xa cách đời thì thật là khó. Hãy noi gương Chúa Giêsu sống mật thiết với Chúa Cha, nhưng lại lăn lộn giữa quần chúng cùng khổ để cứu vớt họ. Đời sống thánh hiến đặc biệt nơi các đan tu sống xa cách thế gian, khác với thế gian, nhưng lại ở giữa những con người để phục vụ họ, để mọi người nhận biết nước Thiên Chúa đang ở giữa họ. Ở đây Đức Thánh Cha đưa hai lối sống chiêm niệm và hoạt động với gần nhau. Mẫu gương của Chúa Giêsu và mục đích của đời tu giúp ta giải quyết vấn đề này. Đức Thánh Cha nói: “Giữa lòng dân Chúa, họ như những tuần canh vươn lên và loan báo cuộc sống mới đã có mặt trong lịch sử chúng ta”. Người tu sĩ gắn liền với lịch sử con người, nhưng lại vươn lên cao như đèn báo hiệu trời mới đất mới. “Chúng ta cùng nhau cảm tạ Thiên Chúa vì hồng ân đời thánh hiến, và cầu xin để đời thánh hiến tiếp tục là dấu chỉ hùng hồn của tình yêu nhân từ của Chúa trong thế gian” (Kinh Truyền tin).

8. Đức Maria và đời thánh hiến

Trong tất cả các bài huấn từ, Đức Thánh Cha luôn kết thúc bằng tâm tình hướng về Đức Trinh Nữ Maria. Sau đây là ba lời kết:

“Xin Đức Trinh Nữ Maria, mẫu gương của đời thánh hiến, đồng hành với anh chị em và nâng đỡ để anh chị em nên dấu chỉ ngôn sứ của Nước Trời trước mặt mọi người. Tôi bảo đảm với anh chị em là luôn nhớ anh chị em trong lời cầu nguyện và tôi chân thành chúc lành cho anh chị em” (huấn dụ).

“Bây giờ chúng ta hướng về Mẹ Maria chí thánh là tấm gương chiếu soi của đức ái. Với sự trợ giúp hiền mẫu của Mẹ, chớ gì mọi Kitô hữu và đặc biệt là anh chị em tu sĩ có thể tiến bước vững chắc và hân hoan trên con đường thánh thiện” (29-1-06).

Lời kinh dâng lên Đức Mẹ của Đức Thánh Cha đã viết trong phần kết của thông điệp thứ nhất của Ngài “Thiên Chúa là tình yêu” như sau:

“Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, Mẹ đã ban cho thế gian ánh sáng chân thật là Đức Giêsu Con của Mẹ, cũng Con Thiên Chúa. Mẹ đã trao phó mình hoàn toàn cho tiếng gọi của Thiên Chúa, nhờ đó Mẹ đã trở nên nguồn suối của lòng nhân từ phát sinh ra chính Chúa. Xin Mẹ tỏ ra cho chúng con Chúa Giêsu. Xin mẹ dẫn chúng con đến với Người. Xin Mẹ dạy chúng con biết và yêu mến Người, để chính chúng con cũng có thể là tình yêu chân thật và nên suối nước hằng sống giữa một thế giới đang khát.”

9. Ba cái không của người tu sĩ (theo như Đức Thánh Cha Benedictô XVI)

Ngày 22-5-2006 tại Roma, Đức Thánh Cha Benedictô XVI đã gặp 1.500 Bề Trên Tổng Quyền các Dòng Nam Nữ; trong bài huấn từ, Đức Thánh Cha nói tới “Ba cái không” mà người tu sĩ phải tránh: không rơi vào mức tầm thường, không trưởng giả và không sống hưởng thụ.

1.500 vị Bề Trên này đại diện cho 137.000 tu sĩ linh mục, 55.000 nam tu sĩ, 780.000 nữ tu, 50.000 đan tu và một số hình thức tu khác.
Tu sĩ nam      192000
Tu sĩ nữ        830000
Tổng cộng  1022000

Đầu tiên là lời thào thăm của Đức Thánh Cha đặc biệt gửi tới các tu sĩ cao niên, bệnh tật, khủng hoảng, cô đơn, đau khổ, mất hướng tu. Chào thăm những người trẻ đang đến gõ cửa các viện tu để tu.

Với các Bề Trên Tổng Quyền, Đức Thánh Cha coi đây là một trách nhiệm nặng nề. Cuộc gặp gỡ hôm nay mang tính hiệp thông, khuyến khích và cổ võ nhau để chu toàn nhiệm vụ luôn bị đòi hỏi và đôi khi bị chống đối, kể cả sự cô đơn của Bề Trên trong cộng đoàn mình.

Khi thi hành nhiệm vụ, Bề Trên phải có mặt thường xuyên, có khả năng linh hoạt và đề xướng, nhắc nhở lại những nét chính yếu của ơn gọi thánh hiến và đặc sủng của dòng mình. Giúp đỡ những người được trao phó trách nhiệm để họ sống ơn gọi trung thành và canh tân. Bề Trên phải có tinh thần trách nhiệm cao độ, quảng đại và quên chính bản thân mình.

Thi hành nhiệm vụ của Bề Trên hôm nay không thiếu những khó khăn mưu chước cạm bẫy. Nhiều tâm thức khác nhau được bày tỏ tự nhiên hơn xưa kia. Bề Trên phải chứng tá Thiên Chúa luôn hiện diện trong một thế giới tha hoá, hoang mang mất hướng đi. Trong một thế giới con người thay thế những điều chân thật rõ ràng bằng những hình ảnh mờ ảo. Một thế giới bị điều kiện hoá bởi tâm thức tự tại, đặt nặng chủ thuyết và tôn thờ kỹ thuật.

Vậy Bề Trên phải giúp tu sĩ thuộc quyền mình nhìn thế giới với con mắt đức tin, trong ánh sáng Đức Kitô khổ nạn và phục sinh của mầu nhiệm vượt qua.

Ba tích cực Đức Thánh Cha đề cao các tu sĩ: Thấm nhuần tinh thần Phúc Âm hơn; Tinh thần Giáo Hội hơn; Tông đồ hơn.

Sau đó Đức Thánh Cha nói đến “Ba cái Không”.

Điều làm cho người đời không nhận ra hình ảnh đích thực của Thiên Chúa nơi người tu sĩ, do bị che phủ bởi những đám mây mù của cuộc sống tầm thường, trưởng giảtiêu thụ. Đức Thánh Cha muôn các Bề Trên phải tìm cách làm cho Dòng mình thoát khỏi ba tâm thức này.

a. Không rơi vào lối sống tầm thường (la mediocrità).
b. Không sống trưởng giả (l’Jmborghesimo).
c. Không sống hưởng thụ(il consumismo).

Đây là tinh thần thế tục, len lỏi vào trong đời sống người tu sĩ, coi đây như cách sống hội nhập với người thời nay. Không dứt khoát chọn lựa giữa lối sống thế tục với lối sống đòi hỏi của Phúc Âm. Điều này làm người tu sĩ sống xa với tôn chỉ Phúc Âm là con đường hẹp mà Chúa Giêsu đã vạch ra cho họ (Mt 7, 13-14).

* Trước tiên, người tu sĩ không được sống tầm thường.
Đức Thánh Cha muốn canh tân người tu sĩ bắt đầu bằng chính lối sống hàng ngày trong những sinh hoạt bình thường. Đánh giá bằng cách không coi cái bình thường là tầm thường, không đi tìm cái khác thường, không nghĩ rằng mình chỉ nên thánh bằng những việc ngoại thường. Có một kiểu nói hay “Commune sed non communiter” làm điều bình thường những không làm cách tầm thường.

Tâm thức “lâu quá hoá nhàm” dễ coi khinh cái bình thường. Cái gì sảy ra hàng ngày, đều đều dễ làm mất sự hăng say. Đôi khi cũng xảy ra ý nghĩ “đứng núi này trông núi nọ”. Từ đó dễ háo hữc đi tìm cái ngoại thường. Nhưng cũng từ đây dễ dàng đưa đến chán nản bỏ qua các việc hàng ngày.

* Thái độ tiếp theo : Người tu sĩ không sống trưởng giả.
Thật khó hiểu làm sao người tu sĩ khấn khó nghèo lại sống trưởng giả.

Công Đồng Vat. II đưa ra một hình ảnh mới về một Giáo Hội phục vụ theo tinh thần Phúc Âm là đơn sơ, nghèo khó như Con Thiên Chúa đến để phục vụ.

Sắc lệnh về đời sống linh mục số 17 viết: “Các linh mục phải tránh tất cả những gì có thể làm xa cách người nghèo… các ngài phải loại bỏ mọi thứ khoe khoang trong đồ dùng của mình. Các ngài phải xếp đặt chỗ ở của mình thế nào để không ai có thể coi đó là bất khả xâm phạm. Và để mọi người không sợ hãi khi phải lui tới”. Lối sống trưởng giả không thể thích hợp cho người tu sĩ.

* Cái không thứ ba là không sống tâm thức hưởng thụ.
Đây là một lời cảnh cáo gửi tới mọi tín hữu theo Chúa Kitô, vì nó ngược với tinh thần Phúc Âm. Lời cảnh cáo này mạnh hơn với người thánh hiến, vì họ là chứng tá cho Phúc Âm qua đời sống của mình, qua lời tuyên khấn khó nghèo, khiết tịnh và phục tùng. Thế giới tiêu thụ và tiện nghi hôm nay dễ dàng lôi kéo người thánh hiến chạy theo người đời. Vì có rất nhiều lý do để tìm kiếm hưởng thụ như vì hoạt động tông đồ, nhân bản, nhu cầu cá nhân…

10. Bài thuốc chữa trị

Số tu sĩ giảm sút. Niên giám Toà Thánh năm 2006: số tu huynh giảm 27% trong vòng 26 năm, từ 79 ngàn xuống còn 55 ngàn. Số nữ tu giảm 22%, từ 990 ngàn xuống còn 770 ngàn.

Trước khủng hoảng đời thánh hiến về con số và về đời sống thiêng liêng, Đức Thánh Cha giới thiệu cách thế chữa chạy là “chấp nhận Thiên Chúa hằng sống qua việc phục vụ hoàn toàn vâng lời đức tin” người tu sĩ phải hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, hoàn toàn thuộc về Chúa Kitô.

Vậy họ phải dứt khoát và can đảm từ bỏ những gì không thuộc về Chúa. Cuộc sống chỉ dành riêng cho Chúa Kitô mà thôi. Đây là sự chọn lựa quyết liệt đi vào con đường hẹp (Mt 7,13-14). Từ bỏ đem đến tự do phục vụ Chúa và anh chị em. Khi từ bỏ để theo Chúa, họ sẽ tìm lại được tất cả những gì của riêng họ trong Chúa. Sự chọn lựa này đưa người tu sĩ đến một lối sống mới, ảnh hưởng tới tất cả đời sống tu trì, không loại bỏ một khía cạnh hay một lãnh vực nào. Làm như vậy, người tu sĩ hiến dâng cho Chúa của lễ hèn mọi của mình trước tôn nhan cao cả lớn lao của Thiên Chúa. Chứng tá này không dễ tìm kiếm trên thế giới, nhưng lại rất quan trọng trong Giáo Hội hôm nay.

Đây là một sự chọn lựa của đức tin, đòi một xác tính về sức mạnh của Thiên Chúa hoạt động và sự hiện diện của Ngài. Việc đi theo Chúa là một sự tuyên xưng đức tin liên tục vào Thiên Chúa và vào Chúa Kitô. Lời tuyên xưng đức tin đặt Thiên Chúa vào chỗ nhất của lòng mình và loại bỏ mọi thần tượng của thế gian. Chính vì tin mà người tu sĩ chọn con đường của ba lời khuyên Phúc Âm.

Để thuộc trọn về Chúa người tu sĩ ôm ấp lối sống khiết tịnh “Đức đồng trinh không thể nào được lồng vào khung ảnh theo lý luận của thế gian. Đây là một điều vô lý nhất trong các nghịch lý của Kitô giáo; vì thế nó không phải là ân ban cho hết mọi người để ai cũng hiểu được và sống theo” (Mt 19,11-12).

Lối sống khiết tịnh đòi phải từ bỏ cả nhu cầu xuất diện nơi công cộng, vì chấp nhận khiết tịnh là chấp nhận thanh bần và đơn sơ, ngay cả nơi áo dòng. Đó là lối sống khiêm nhường và hiền lành của Đức Kitô.

Nói về đức phục tùng thì Đức Thánh Cha nói đến “việc phục vụ quyền bính”, theo tinh thần Phúc Âm. Đây là một thử thách đối với những ai phải dùng quyền bính như một gánh nặng. Còn với những ai vâng phục quyền bính trong tự do theo mẫu gương của Abraham. Thì thấy giá trị siêu nhiên của vâng phục, phát xuất từ lòng tin dưới ánh sáng mầu nhiệm thập giá Đức Kitô. Cần tránh những thái độ lý luận tự phát, nhưng cả Bề Trên lẫn bề dưới phải nhìn dưới khía cạnh đức tin. Cầu nguyện và tham dự Thánh Lễ hàng ngày sẽ làm cho việc phục vụ quyền bính nên dễ dàng. Đừng hùa theo các đòi hỏi và trào lưu thế gian. Và sau cùng là tin tưởng và phó thác cho Đức Trinh Nữ Maria, Người Nữ Thánh Hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa./.