|
ĐỀ TÀI 4
ĐÀO TẠO CÁC NHÀ ĐÀO TẠO !
Lm Micae Phaolô Trần Minh Huy pss
Hội Linh Mục Xuân Bích
Kính thưa Hội Nghị,
Hiện nay, nhiều
nhà đào tạo cảm thấy mình chưa được trang bị đầy đủ cho
nhiệm vụ đào tạo. Đó cũng là thao thức của Giáo Hội. Bộ Giáo
Dục Công Giáo ngày 4.11.1993 đã công bố “Những chỉ dẫn
liên quan đến việc chuẩn bị các nhà đào tạo Chủng viện.”
Và từ đó, Bộ không ngừng phối hợp với Ủy ban Tòa Thánh đặc
trách ơn gọi tổ chức Công nghị về ơn gọi tại các lục địa:
1994 tại Mỹ Châu Latinh, 1997 tại Âu châu, 2001 tại Bắc Mỹ
và 2007 tại Á châu.
Đúng vậy, Liên Hội Đồng
Giám Mục Á Châu, với sự hỗ trợ của Serra (một tổ chức quốc
tế của giáo dân nhằm cổ võ và nâng đỡ ơn gọi), đã tổ chức
tại Thái Lan từ 22-27.10.2007 Hội nghị chuyên đề về “Ơn
Gọi tại Á Châu hôm nay”
Hội nghị Đại diện các Đại
chủng viện Việt Nam cũng nhìn nhận nhu cầu khẩn thiết hiện
nay là cần nhiều nhà đào tạo chất lượng; đồng thời đề xuất
phương thế cho các nhà đào tạo nâng cao kiến thức, nghiệp vụ
đào tạo qua các cuộc trao đổi, hội thảo, cũng như các khóa
huấn luyện ngắn hạn giữa các Giáo Hội trong khu vực.
Ước mong ấy rất được khích lệ
bởi Thư Chung 2007 của HĐGMVN “Giáo dục hôm nay, Xã hội
và Giáo Hội ngày mai.” Thư về giáo dục của ĐTC Biển Đức
XVI ngày 23/2/2008 cho hơn năm chục ngàn phụ huynh, giáo
chức và học sinh Rôma cũng là một tham chiếu quí báu cho
chúng ta.
Cùng nằm
trong quỹ đạo đó, và trong bối cảnh chuẩn bị Công Nghị Công
Giáo Việt Nam 2010, đánh dấu 50 năm trưởng thành và hướng về
tương lai của Giáo Hội Việt Nam, Ủy ban Tu Sĩ HĐGMVN và Liên
Hiệp Các Bề Trên Thượng Cấp Tu sĩ Việt Nam tổ chức “Hội Nghị
Tu Sĩ và Công Nghị” này.
Phần tôi xin trình bày đôi
nét về “ĐÀO TẠO CÁC NHÀ ĐÀO TẠO.” Nhưng trước hết, tôi xin
nhấn mạnh rằng việc đào tạo các nhà đào tạo sẽ không hiệu
quả, nếu các nhà đào tạo, hiện tại cũng như tương lai, không
tự đào tạo chính mình theo mẫu gương Chúa Giêsu.
I. NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT
1.
Nhu cầu đào tạo các
nhà đào tạo
2.
Thái độ đối với ứng
sinh ngày nay
3.
Đặc Tính của nền đào
tạo hôm nay
4.
Lòng tin vượt lên mọi
khó khăn
II. BỐI CẢNH CÁC NHÀ ĐÀO TẠO,
ĐƯỢC ĐÀO TẠO, TỰ ĐÀO TẠO VÀ
ĐÀO TẠO
1.
Cộng đoàn giáo dục
2.
Một đội ngũ hiệp nhất các nhà đào tạo
3.
Chính nhà đào tạo
4.
Sự thích nghi cần thiết
5.
Trách nhiệm đào tạo
6.
Tương quan đào tạo
7.
Việc linh hướng
III. NHÌN VỀ QUÁ KHỨ VÀ HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI
1.
Nhìn về quá khứ
2.
Hướng tới tương lai: CHÚA GIÊSU, KIỂU MẪU CỦA CÁC NHÀ ĐÀO TẠO
IV. KẾT LUẬN
I. NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT
Trong khuôn khổ thời gian rất hạn chế này, tôi chỉ nêu lên một số điểm
gợi ý suy tư về những đức tính người đào tạo tốt phải có,
những gì người đào tốt phải làm và những gì người đào tạo
tốt phải tránh thôi. Để đào sâu hơn, xin quý vị vui lòng đọc
trong các tài liệu tài liệu in của Hội nghị và tài liệu đề
nghị tham khảo.
1. Nhu cầu
đào tạo các nhà đào tạo
Những khó khăn mà các nhà đào tạo hôm nay gặp phải
biện minh cho việc cần một cuộc chuẩn bị thích hợp. Một đào
tạo chuyên môn là cần thiết cho các nhà đào tạo để cho họ
được an tâm và hiệu quả trong trọng trách của mình. Nhà nước
và các công ty, xí nghiệp để ra rất nhiều tài nguyên nhân
lực và phương tiện sư phạm để đào tạo nhân sự của họ. Thách
đố sống còn đó cũng quan trọng cho đời sống tu trì của chúng
ta. Rất nhiều người đang làm việc đào tạo hiện nay cảm thấy
đã thiếu mất sự đào tạo đó trước khi bước vào nhiệm vụ này.
Do đó, các nhà đào tạo không nên ngần ngại tham dự vào các
khóa đào tạo do nhiều cơ quan cống hiến, để được đào tạo và
tự đào tạo chính mình, vì chất lượng của việc đào tạo phụ
thuộc phần lớn vào chất lượng của các nhà đào tạo, đặc biệt
là các nhà đào tạo thường trú trọn thời gian. Tìm giáo sư
chất lượng đã khó, tìm nhà đào tạo chất lượng lại còn khó
hơn nữa.
Để trở thành nhà đào tạo, cần phải có hai điều rất quan trọng này là
lòng khiêm nhường và tinh thần hài hước rộng lượng. Lòng
khiêm tốn là nền tảng thiết yếu: Thà có một nhà đào tạo ít
uyên bác nhưng ý thức về các giới hạn và yếu đuối của mình
mà tin tưởng vào Chúa
hơn là một nhà đào tạo biết hết mọi sự nhưng không ý thức
được mình thực sự là ai và đang làm gì trên những con người
được Chúa kêu gọi tham gia vào sứ mệnh cứu rỗi của Ngài. Nếu
quá nghiêm nghị và coi các tu sĩ như một nhóm người hoàn hảo
thì sẽ dễ dàng loại bỏ các ứng sinh không luôn luôn như mình
mong muốn, vì đời sống thánh hiến không được thiết lập để
chỉ tiếp nhận những thành phần ưu tú, nhưng là những con
người để đào tạo.
2. Thái độ
đối với ứng sinh ngày nay
Những người sẽ đến chia sẻ đời sống tu trì với chúng ta có quyền được có
những vị đồng hành tốt nhất, luôn làm cho các ứng sinh lúc
nào cũng trực diện với chính mình, tự biết mình là ai và
mình phải trở thành như thế nào? Tương lai của Hội Dòng tùy
thuộc vào công cuộc đào tạo các thành viên. Công cuộc đào
tạo này đóng vai trò rất quan trọng trong thế quân bình của
một con người, và khả năng bền vững trong đời tu lệ thuộc
phần lớn vào đó. Nhưng việc đào tạo họ vốn không dễ dàng thì
nay lại còn khó khăn hơn, và nhiều lần chúng ta nếm trải
thất bại trong việc đào luyện họ nên những con người vững
chắc, có trách nhiệm, có khả năng cộng tác với người khác và
mang lại ý nghĩa thánh thiêng cho cuộc đời.
Mỗi trường hợp đều rất cá biệt và bao gồm những bước tập luyện khác
nhau. Nhưng chính họ mà Chúa đã gọi và đã chọn làm nơi cư
ngụ của Chúa Thánh Thần. Chúng ta phải chấp nhận người trẻ
ngày nay khác với chúng ta lúc còn trẻ trong quá khứ và sự
rạn nứt giữa các thế hệ ảnh hưởng đến việc thông truyền các
giá trị chắc chắn, những qui luật cư xử, những mục tiêu đáng
tin cậy để qui hướng và xây dựng cuộc sống chứng tá Tin
Mừng. Ngoài ra, bầu khí của môi trường sống, não trạng và
hình thái văn hóa khiến cho người ta nghi ngờ giá trị nhân
vị, ý nghĩa sự thật và sự thiện.
Nhà Dòng không được lập ra để chỉ đón tiếp các thánh nhân, nhưng để đón
nhận những con người muốn trở thành thánh nhân. Dĩ nhiên
phải có những tiêu chuẩn hay điều kiện trên bình diện tri
thức, nhân bản và thiêng liêng để chấp nhận ứng sinh vào đời
sống thánh hiến.
Việc đào tạo tốt phải diễn ra trong đức tin và lòng nhân hậu đối với tất
cả những ai Chúa gửi đến cho chúng ta. Chúng ta hãy giữ mình
khỏi những xét đoán quá đơn giản hay những định kiến cứng
nhắc, nhưng hãy để ơn thánh thực hiện con đường của mình.
Việc đào tạo hôm nay tuy làm chung với nhiều người
và cho nhiều người, nhưng không có tính cách “bầy đàn” (tập
thể), mà phải chú ý đến từng cá nhân với từng hoàn cảnh cụ
thể cá biệt của họ. Nhà đào tạo và cộng đoàn giáo dục phải
thích nghi với những khó khăn của mỗi con người đang được
đào tạo.
3. Đặc
Tính của nền đào tạo hôm nay
Cần có sự gần gũi và tín nhiệm nảy sinh từ tình thương. Nhà đào tạo tốt
phải trao hiến một cái gì đó từ bản thân mình mới có thể
giúp ứng sinh khắc phục những ích kỷ và trở thành người có
khả năng yeu thương đích thực. Có thế thì mới xây dựng được
sự quân bình giữa tự do và kỷ luật. Việc đào tạo chỉ thành
công tốt đẹp khi huấn luyện được cho ứng sinh sử dụng tự do
một cách đúng đắn và có trách nhiệm.
Kỷ luật làm cho việc thực thi quyền bính trở nên đáng tín nhiệm và có uy
tín. Nhà đào tạo đạt được uy tín này bằng kinh nghiệm và khả
năng, nhất là bằng cuộc sống phù hợp với những gì mình nói,
biểu lộ một tình yêu thương chân thành. Tuy nhiên, nhà đào
tạo cũng là con người dòn mỏng có thể thiếu sót lầm lẫn,
nhưng luôn nỗ lực làm cho mình được phù hợp với sứ mệnh đào
tạo đã nhận lãnh, mà mình có trách nhiệm lương tâm sẽ phải
trả lời cho chính mình, cho tha nhân và cho Chúa. Để làm
được điều đó, nhà đào tạo phải đặt niềm hy vọng vào Thiên
Chúa, Đấng duy nhất biết rõ và có thể biến đổi triệt để một
con người.
Nhiều cuộc nghiên cứu hướng tới một nền thần học được canh tân, chú tâm
suy tư về việc phục vụ ở trong Giáo Hội và trong Thế giới,
nghĩa là vừa dưỡng giáo vừa truyền giáo. Những suy tư này
mang lại những thay đổi lớn trong cách sống và đào tạo, noi
theo mẫu gương của chính Chúa Giêsu. Mọi lời Chúa Giêsu dạy,
mọi việc Chúa Giêsu làm đều mang dấu ấn của thay đổi: thay
đổi từ cũ sang mới, thay đổi từ điều được trông đợi đến điều
bất ngờ... và qua những đổi thay đó mà Giáo Hội đã được sinh
ra, rồi hôm nay, cũng qua những đổi thay như thế mà Giáo Hội
tồn tại và phát triển. Qui luật của sự sống và sinh trưởng
là thay đổi, do đó mỗi chặng đường đào tạo và tự đào tạo
cũng phải được ghi dấu bằng những thay đổi tích cực trong
niềm hy vọng một tương lai tốt đẹp hơn. Công cuộc đào tào
phải đặt trong bối cảnh thời đại của nó mới thích hợp và có
hiệu quả.
Tuy những kinh nghiệm tiêu cực ảnh hưởng đến từng cuộc đời, chúng cũng
giúp xây dựng tương lai và chuẩn bị con người sống chứng
nhân vui tươi và hạnh phúc. Song hãy coi chừng, nếu lúc nào
cũng nghĩ đến những kinh nghiệm tiêu cực, cuối cùng sẽ liều
mình mang lấy những thái độ tiêu cực. Do đo, nhà đào tạo
không căn cứ các kinh nghiệm tiêu cực, nhưng phải khám phá
và khởi đi từ những kinh nghiệm tích cực để phán đoán từng
tình huống ơn gọi, vì tương lai phải được xây dựng trên các
yếu tố tích cực. Càng nói đến cảm thông, càng sống cảm
thông, ta càng truyền thông sự cảm thông. Phải cố gắng khởi
đi từ những kinh nghiệm tích cực chừng nào có thể. Sự bi
quan không có chỗ trong công cuộc đào tạo và trong vườn nho
Chúa.
Để làm việc đào tạo, chúng ta cần đặt sang một bên
những chờ đợi, những sợ hãi, những mất mát của chúng ta để
nhìn cách khách quan những gì là đẹp đẽ và cao thượng trong
ứng sinh, hầu giúp họ bước đi theo Chúa Kitô trong một đặc
sủng riêng biệt, có khả năng dẫn dắt họ đạt tới sự triển nở
toàn diện, nhân bản và thiêng liêng. Nói cách khác, nhà đào
tạo không đòi hỏi người mới vào phải có một hạnh kiểm hoàn
hảo, chứng tỏ một sự trưởng thành như người đã sống năm mươi
tuổi đời tu. Cũng đừng đòi hỏi ứng sinh phải có những nhận
thức về đời tu và một đức tin sâu sắc ngang trình độ của
chúng ta. Nhưng cũng không nên quá dễ dàng kết án một ơn
gọi, song hãy cho người đó thêm cơ hội và nỗ lực khám phá ra
và sống ơn gọi của mình.
4. Lòng
tin vượt lên mọi khó khăn
Nhưng đừng sợ, những khó khăn trong công cuộc đào tạo có thể vượt qua
được, khi mỗi người và mỗi thế hệ bắt đầu quyết định lại cho
mình, biến những giá trị lớn lao trong quá khứ thành của
mình và đổi mới qua sự chọn lựa bản thân, dù lắm khi đòi hỏi
nhiều hy sinh và đau khổ, để xây dựng một nền giáo dục đúng
nghĩa của nó.
Những ai tin vào Chúa Kitô càng có thêm động lực mạnh mẽ để không sợ
hãi, vì Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta, và tình yêu của
Ngài luôn đến với chúng ta trong nơi chúng ta sống và trong
thân phận yếu đuối lầm than của chúng ta, hầu cho chúng ta
cơ hội mới để làm điều thiện cho vinh danh Chúa, bằng việc
nhiều người được ơn cứu rỗi.
II. BỐI CẢNH CÁC NHÀ ĐÀO TẠO
ĐƯỢC ĐÀO TẠO, TỰ ĐÀO TẠO VÀ ĐÀO TẠO
Con người muốn hình thành và tồn tại trong cái “trở thành” của mình cần
phải có một môi trường. Và, môi trường đào tạo tu sĩ là cộng
đồng liên nhân vị, mà mỗi người đều sống cùng, sống với và
sống cho người khác. Do đó, chúng ta sẽ nói tới bối cảnh mà
trong đó các nhà đào tạo được đào tạo, tự đào tạo và đào tạo
ứng sinh, để trở thành nhà đào tạo mỗi ngày một hơn.
1. Cộng đoàn giáo
dục
Các nhà đào tạo và những người đang được đào tạo, trong mối tương quan
liên nhân vị, làm nên một cộng đoàn có tính cách và khả năng
giáo dục. Cộng đoàn này phải biểu lộ một khuôn mặt vừa đượm
nhuần nhân bản vừa đượm nhuần thiêng liêng, diễn tả cả niềm
vui, sự bình an, cũng như những khó khăn và đau khổ, nhưng
phải luôn cho thấy một hướng đi, một cái nhìn rõ ràng thế
nào là đời tu, qua việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm và
Hiến pháp, nội qui chiếu theo đặc sủng của vị sáng lập và
linh đạo được bổ sung và kiện toàn qua dòng thời gian do các
nhu cầu tông đồ đề xướng.
Cộng đoàn giáo dục này phải kiến tạo bầu khí kiên định, bền vững, thích
hợp cho việc phát triển nhân bản và thiêng liêng. Sự thật và
tính đơn sơ trong các mối tương quan sẽ dẫn đến việc chỉ bảo
lẫn nhau, chấp nhận nhau, ý thức về lợi ích và niềm vui
chung trong việc tìm kiếm và phục vụ Chúa.
Cộng đoàn giáo dục này phải thể hiện trách nhiệm tập thể trong việc đào
tạo, trong đó ứng sinh được mời đảm nhận trách nhiệm hàng
đầu tự đào tạo chính họ, đồng thời cộng tác vào việc đào tạo
các bạn đồng môn.
Cộng đoàn giáo dục này cũng phải mở ra với các cơ cấu chung quanh khác
của Giáo Hội. Những kinh nghiệm lớn hơn do sự mở ra này sẽ
đào tạo ý thức tông đồ, giúp ứng sinh khám phá ra tính cấp
bách của việc loan báo Tin Mừng, ý nghĩa và những đòi hỏi
của cuộc đời trọn vẹn hiến dâng phục vụ Nước Chúa của họ.
2. Một đội
ngũ hiệp nhất các nhà đào tạo
Trách nhiệm tập thể của các nhà đào tạo đóng vai
trò tiên quyết trong việc đào tạo. Vì thế cần phải có một
đội ngũ hiệp nhất các nhà đào tạo, cộng tác huynh đệ, chia
sẻ đời sống và đối thoại chân thành (x. Những chỉ dẫn… số
11). Chính sự hiệp nhất của các nhà đào tạo với Chúa Kitô là
nền tảng, khuôn mẫu và keo sơn cho sự hiệp nhất của họ với
nhau. Sự hiệp nhất tinh thần và hành động trong một đường
lối duy nhất vừa tránh được tệ trạng “trống đánh xuôi kèn
thổi ngược” gây phân hóa cộng đoàn, vừa là sức mạnh sư phạm
rất thuyết phục đối với những người đang được đào tạo, khiến
họ an tâm tiến bước.
Mỗi nhà đào tạo chỉ đóng một phần vai trò trong việc đào tạo. Chính
cộng đoàn mới có tính cách đào tạo toàn diện. Đội ngũ các
nhà đào tạo có vai trò quyết định trong việc tạo nên bầu khí
ý thức cao về sự thánh thiêng, về học vấn, về đối thoại và
về phục vụ. Khi ý thức được rằng mọi người tương tác và ảnh
hưởng lẫn nhau, mọi thành viên trở nên đồng trách nhiệm và
chú ý hơn đến việc quản lý cách ứng xử cá nhân của mình. Các
ứng sinh sẽ bắt chước hạnh kiểm và noi theo lời dạy của các
nhà đào tạo: họ chịu ảnh hưởng những gì họ đã thấy và đã
nghe!
Các nhà đào tạo tìm được sự nâng đỡ không thể thiếu từ anh chị em đồng
nghiệp, là những người sẽ chấp nhận đón tiếp các thế hệ mới
với lòng nhân từ và khoan dung. Tình bạn và lòng hiếu khách
bắt rễ trong những việc thực hành chung được mọi người chấp
nhận sẽ củng cố các mối giây huynh đệ. Công việc chung cũng
giúp phát triển tình liên đới trong sứ vụ. Không có tình
liên đới này, sứ vụ sẽ trở nên nặng nề và mất đi hiệu năng.
3. Chính nhà đào tạo
Nhà đào tạo đích thực trước
hết phải biết chính mình qua các cách xử sự, các thái độ,
các tình cảm, các động lực cũng như trong các ngộ nhận cơ
bản của mình. Nếu không đi trên con đường biết mình thì nhà
đào tạo sẽ không bao giờ giúp người khác tìm được con đường
này, và có thể tháp tùng họ trên con đường đó được. Người ta
mong muốn có những nhà đào tạo hoàn hảo, nhưng không thể đòi
hỏi họ phải hoàn hảo trong mọi khía cạnh. Tuy vậy, người ta
có thể đòi hỏi họ phải biết chính họ, hoặc ít nhất phải biết
điểm yếu kém nhất trong nhân cách họ, điểm mỏng giòn nhất
chưa mở ra với tách động của Thần Khí. Họ phải nhận thấy nó
và làm chủ nó để biết các hệ quả có thể gây ra do điểm yếu
này. Một nhà đào tạo đích thực phải phát hiện nơi người mình
phụ trách các xung đột có thể xảy ra và sự thiếu trưởng
thành nơi người đó.
Nhà đào tạo tốt cần hai điều
kiện quan trọng này: một là lòng khiêm nhường ý thức
giới hạn và yếu đuối cỉa mình để tin tưởng vào Chúa; hai
là tinh thần hài hước rộng lượng ý thức ứng sinh không
luôn như mình mong muốn, nhưng là những con người bất toàn
để mình đào tạo.
Các nhà đào tạo phải phát huy khả năng giảng dạy
bằng cách cập nhật hóa kiến thức với những nhu cầu hiện tại
của Giáo Hội giữa một thế giới đổi thay nhanh chóng, đồng
thời cải tiến phương pháp, trong sự trung thành với Mạc khải
và Huấn quyền.
Phẩm chất của các nhà đào tạo hết sức quan trọng, nên họ cần được tuyển
chọn giữa những người ưu tú và được chuẩn bị kỹ lưỡng. Chúng
ta cần những giáo sư giỏi để dạy học, nhưng lại cần hơn các
nhà đào tạo tốt để huấn luyện con người toàn diện.
Các nhà đào tạo phải không ngừng tự đào tạo mình bằng chính công cuộc
đào tạo của mình: càng sống và làm việc đào tạo, càng trở
nên nhà đào tạo hơn, như người Tây phương thường nói “người
ta trở thành thợ rèn bằng cách rèn”
4. Sự thích nghi cần thiết
Thích nghi là đặt mình hòa điệu với những hoàn cảnh
và môi trường cụ thể, với những con người, những tập tục có
sẵn... Nhưng thích nghi không hoàn toàn gạt sang một bên
những gì có trước của xã hội mà mình phát xuất: Người mới
vào đôi khi khó hội nhập vào bối cảnh mới, trong lúc những
người đã sống ở đó thấy thế giới của mình bị xáo trộn bởi
những người mới đến. Do đó cần phải lắng nghe và cảm thông
nhiều lắm để thích nghi với nhau. Qua dòng lịch sử, con người
tự điều chỉnh mình với văn hóa của mình và
văn hóa của người khác. Nét đẹp của cuộc đời đến từ sự đổi
mới không ngừng. Cuộc đời sẽ phong phú khi được từ từ biến
đổi ăn nhịp với sự hiểu biết, cách làm, cách sống và suy tư
mới mẻ.
Những người lớn tuổi muốn rằng những người mới vào phải có những ý
tưởng, những tình cảm, những khát vọng và những trông đợi
như họ, mà quên đi khoảng cách văn hóa và giáo dục của các
thế hệ. Nhà đào tạo phải tôn trọng và đón nhận sự khác mình
của ứng sinh, đồng thời phải thích nghi phương pháp của
mình, dù đôi khi khó khăn.
Đôi vợ chồng phải thay đổi cuộc sống khi đón nhận đứa con đầu lòng, tự
điều chỉnh và lưu ý đến đứa con, với các nhu cầu và chỗ đứng
của nó. Với mỗi đứa con ra đời, cả gia đình phải tái điều
chỉnh cách xử sự. Cũng tương tự như thế đối với một cộng
đoàn tu: Cần phải chấp nhận những phiền phức do những khác
biệt của các thế hệ. Cuộc đối thoại và cởi mở giữa các thế
hệ khác nhau là cần thiết. Những người mới vào phải học biết
rằng những người cũ có thể mang lại cho mình hoa quả kinh
nghiệm và sự khôn ngoan của họ bằng cách niềm nở lắng nghe;
hòa nhịp cùng với bước đi của cộng đoàn và hội nhập vào cách
sống đã được thiết lập và cấu trúc. Người cũ không quá nại
vào nề nếp để làm trở ngại cho những người mới đến và những
khát vọng của họ; không bắt họ phải mau chóng đi vào thế
giới của mình và điều chỉnh ngay theo nhịp sống và tư tưởng
của mình.
Điều đó đòi hỏi người đã được trạch cử lo việc đào tạo phải có khả năng
thiện cảm với các chuyển biến mới khác mình. Ý thức về sự
khác mình rất quan trọng.
5. Trách nhiệm đào tạo
Người ta có thể lãnh trách nhiệm đào tạo ở mọi lứa tuổi, miễn là có được
những đức tính nào đó. Người đào tạo không nhất thiết phải
hoàn hảo hay là thánh, nhưng phải là chứng tá một đời sống
tu trì đích thực. Tính đích thực làm nên sự thành công của
các nhà đào tạo. Các người trẻ sẽ nhạy cảm đối với gương
sáng của một nhà đào tạo khiệm tốn và chân thực. Tính ngay
thẳng đóng vai trò đem lại bình an trong các mối tương quan,
cả khi sự thật lắm khi khó nghe. Phải khách quan trong những
gì làm cho tính nhạy cảm phải đau khổ.
Uy quyền của nhà đào tạo phải được mọi người nhìn
nhận và tôn trọng. Các ứng sinh sẽ rất tín nhiệm uy quyền
của nhà đào tạo được cả cộng đoàn nhìn nhận, nhất là các bề
trên cấp cao. Một nguyên tắc căn bản: Trách nhiệm đòi phải
có quyền bính tương ứng và phải luôn theo hệ thống, chứ
không qua mặt các cấp độ trách nhiệm. Một vị Giám tỉnh, một
bề trên không bao giờ được vượt trên người có trách nhiệm
đào tạo để trực tiếp điều chỉnh các người dưới quyền của
người đó. Ngược lại, người trách nhiệm cấp dưới không làm
điều gì quan trọng mà không thông qua ý kiến và sự chấp
thuận của cấp trên. Cần có sự trao đổi thống nhất đường lối
và hành động.
Nhà đào tạo không thể chuyên môn trong mọi sự,
nhưng phải luôn giữ trách nhiệm đồng hành cá nhân cho các
ứng sinh. Các giáo sư có thể trình bày cách khách quan đặc
sủng của cộng đoàn hay về tất cả các đề tài mà họ chuyên
môn. Cần phải xây dựng tương quan hợp tác giữa các giáo sư
và các nhà đào tạo nhằm sự đào tạo toàn diện. Vì việc đào
tạo là một toàn thể và các môn học phải góp phần vào việc
đào tạo toàn diện, nhân bản và thiêng liêng, tri thức và
tông đồ cho ứng sinh.
6. Tương quan đào tạo
Trong tương quan đào tạo, tiến trình giáo dục phải đi trước. Giáo dục là
khai thông, làm phát hiện, làm xuất hiện, làm thoát ra, là
giúp ứng sinh nhận diện cái tôi sâu thẳm của mình để rồi làm
thông thoáng và biến đổi cái tôi này thành cái tôi mà nó
phải trở thành. Nếu không hiểu được chính mình, khám phá ra
các động cơ còn nằm trong tiềm thức và nhận ra các phân mảnh
của mình để biến đổi, thì không thể nào đạt tới sự trưởng
thành và sự thống nhất nội tâm.
Nhà đào tạo phải đi vào khoảng không gian huyền bí của từng ứng sinh,
hiểu rõ các ước muốn tốt, cũng như những tổn thương sâu xa
thường được che giấu của họ, giúp họ hiểu biết chính mình và
tin tưởng để ân sủng Chúa tác động, thì họ mới tiến bộ thực
sự được. Nếu không làm như thế thì sự tiến bộ đó chỉ có bề
ngoài.
Không có bước khởi đầu này, mọi nội dung đào tạo hướng đến một người là
vô ích, vì quả tim họ còn vướng bận nhiều thứ mà chính họ
không biết. Và nếu họ không biết, thì làm sao họ có thể dứt
bỏ nó? Nội dung đào tạo sẽ không bén rễ sâu trong người này,
và kết quả đào tạo sẽ chỉ biểu hiện trêncác ứng xử của đương
sự trong một thời gian nào đó mà không kết hợp được với các
động lực sâu xa của họ.
Việc thiếu hụt các nhà đào tạo có chất lượng ảnh hưởng không chỉ đào tạo
tri thức, mà cả đào tạo nhân bản và thiêng liêng: nhà đào
tạo không có cả thời gian và nghị lực để lắng nghe, thấu
hiểu và cảm thông, cung cấp những ý kiến khôn ngoan cho ứng
sinh; và các ứng sinh bị tước mất nhu cầu chia sẻ và trình
bày những vấn đề thực tế phức tạp của họ.
Điều đáng ao ước là có nhà đào tạo thích hợp cho từng giai đoạn huấn
luyện: nhân cách và tài năng của nhà đào tạo được thi thố
tốt, và các ứng sinh sẽ được đào tạo tốt hơn trong từng giai
đoạn liên hệ.
Nhà đào tạo cần gần gũi, nhưng nên tránh trở nên “quen quá hóa nhờn,”
nghĩa là phải có một mức độ thân mật đủ để trao đổi với nhau
hầu biết mình và cái mình phải “trở thành.”Một liên hệ quá
quen thuộc nhàm lờn liều mình tạo nên một sự thông đồng cản
trở những tương quan lành mạnh. Nhà đào tạo nên giữ một
khoảng cách cần thiết nào đó. Những xung đột liên nhân vị có
thể dễ dàng sản sinh ra những mối ác cảm rất mạnh và nguy
hiểm, có thể trở nên không chịu nổi cho người này lẫn người
kia.
Ngày nay các ứng sinh vào dòng tuổi khá cao, nên phương pháp đào tạo
phải thích nghi với tuổi đời và các giai đoạn phải đáp ứng
phù hợp với các giai đoạn tăng trưởng. Mỗi giai đoạn phải
nhằm một mục tiêu đặc biệt, chẳng hạn giai đoạn Nhà Tập phải
là thời gian trong đó đời sống thiêng liêng vượt trổi hơn
đời sống tông đồ.
Nhà đào tạo không được đòi hỏi người đang được đào tạo phải có những suy
nghĩ và hành xử như mình, ngang tầm mức của mình. Như vậy là
đốt giai đoạn, và đốt giai đoạn là đốt cháy luôn một đời
người.
Mọi người chờ đợi nhiều ở công cuộc đào tạo. Nhưng các nhà đào tạo không
luôn luôn là những con người hấp dẫn đối với các ơn gọi hôm
nay. Bề trên cắt đặt họ vì các đức tính của họ. Tuy nhiên,
những đức tính ấy không luôn được những người mới vào chờ
đợi. Mối liên hệ tùy thuộc thái độ cởi mở của nhà đào tạo.
Lòng khiêm tốn của nhà đào tạo mở ra với đối thoại và cảm
thông. Một chút khiêm tốn có thể làm cho một con người được
lớn lên. Sự khác biệt tâm thức giữa các thế hệ sẽ ảnh hưởng
đến tính đáng tin cậy của nhà đào tạo đối với những ai được
giao phó cho họ. Đừng để những điều đáng tiếc đi vào tiềm
thức và ở lại mãi trong lãnh vực không nói lên lời đó, hầu
tránh những nỗi thất vọng không lường trước được.
7. Việc linh hướng
Việc linh hướng không thể thiếu trong tiến trình đào tạo. Nhà đào tạo
phải được đào tạo và tự đào tạo kỹ lưỡng với nhiều kỹ năng
cần thiết để trở nên dụng cụ của Chúa Thánh Thần, vị linh
hướng đích thực. Ngài dẫn dắt mỗi người theo một đường lối
độc đáo. Cả vị linh hướng lẫn người thụ hướng đều phải tìm
khám phá và điều chỉnh cuộc đời người thụ hướng theo đúng
con đường đó của Chúa Thánh Thần. Tương quan linh hướng là
một tương quan khép kín tay ba và giữ bí mật như ấn tòa giải
tội: Chúa Thánh Thần, người thụ hướng và vị linh hướng.
Vị linh hướng phải khơi dậy lòng tín nhiệm nơi người thụ hướng bởi thái
độ sẵn sàng, cởi mở, đón tiếp và chân thành, đồng thời nuôi
dưỡng tinh thần tin cậy nhờ lòng cẩn mật của mình. Có thế
thì người thụ hướng mới có thể tự do nói hết những trăn trở
riêng tư, những bí mật của cuộc đời mình, đặc biệt trong
lãnh vực giới tính.
Vì việc linh hướng thuộc về tòa trong, nên khi họp đánh giá ứng sinh
(tòa ngoài), vị linh hướng không bao giờ được lên tiếng, dù
để bảo vệ hay để kết án người thụ hướng của mình. Sự bảo mật
này nhằm bảo đảm tự do nội tâm của ứng sinh trong việc biện
phân và quyết định chọn lựa ơn gọi. Nhưng nhờ nghe trong hội
đồng những nhận xét khác nhận xét của mình, vị linh hướng có
thêm được thông tin về những yếu tố khác, nhờ đó mà phân
định được tốt hơn, đồng thời chọn lựa sự giúp đỡ thích hợp
và hữu hiệu hơn cho người thụ hướng của mình.
Quyết định dứt khoát ở tòa trong ăn khớp với lương tâm ứng sinh: tự mình
đối diện, trắc nghiệm bản thân, lượng lấy sức và tự mình chủ
động giải quyết. Do đó vị linh hướng dự phần trong việc đào
tạo lương tâm trưởng thành của ứng sinh. Ở tòa trong, vị
linh hướng không chỉ thụ động lắng nghe, song phải có khả
năng thách đố và đối đầu, khi sự việc đòi hỏi, để giúp ứng
sinh trải qua một tiến trình phân định ơn gọi đích thực, như
Chúa và Giáo Hội mong muốn.
Việc linh hướng và phân định thiêng liêng rất tế nhị và khó khăn. Nó bao
gồm mọi chiều kích của cuộc đời ứng sinh: nhân bản và thiêng
liêng, tự nhiên và siêu nhiên. Vì thế vị linh hướng phải cập
nhật các kỹ năng linh hướng, những hiểu biết về tâm sinh lý,
khả năng tư vấn, biết vận dụng các khám phá hữu ích của tâm
lý học, y học và xã hội học hiện đại. Các trao đổi với đồng
nghiệp, cũng như những khóa học huấn luyện các vị mới và cập
nhật cho các vị cũ, liên tục gia tăng khả năng của vị linh
hướng, mà ngày nay có thể là linh mục và tu sĩ nam nữ, miễn
là được Chúa Thánh Thần dùng, thẩm quyền Giáo Hội trạch cử
và được đào tạo thích đáng, vì đây là việc của Chúa, và chỉ
có Chúa biết đầy đủ một con người và biến đổi tận gốc con
người đó.
III. NHÌN VỀ QUÁ KHỨ VÀ HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI
1. Nhìn về quá khứ
Trước hết, chúng ta cám ơn Chúa và biết ơn các Lãnh Đạo Giáo Hội, cùng
các nhà đào tạo đã dày công đào tạo và vun đắp cho đời sống
tu trì trong Giáo Hội có được ngày hôm nay. Những nỗ lực của
quá khứ là bàn đạp, là đà bẩy và bệ phóng hướng về tương
lai. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, chúng ta cũng cần
thẳng thắn nhìn lại đôi nét cách thức một số nhà đào tạo đã
và đang làm có thể không còn thích hợp với thời đại của
chúng ta hôm nay, một thời đại đang đổi mới từng ngày. Thật
thế, tương lai của đời sống thánh hiến phải được xây dựng
trên tầm vóc của những con người thuộc thời đại chúng ta.
§
Nhiều nhà đào tạo đang áp dụng lại cách thức mình đã
được đào tạo trước đây, kiểu “xưa bày nay làm”. Chúng
ta không phê phán cách đào tạo thời ấy là sai, mà phải nhìn
nhận thời ấy là như vậy, nhưng nay không còn thích hợp nữa,
cần phải được cập nhật hóa, thay đổi và cải tiến theo những
chỉ dẫn của Huấn quyền Giáo Hội, cũng như của khoa sư phạm
thời nay.
§
Để nắm bắt sâu sát tình hình các ứng sinh hầu công
cuộc đào tạo được hiệu quả, một số nhà đào tạo hay hỏi các
ứng sinh về những ứng sinh khác (lấy lý do “họ ở với
nhau, biết nhau hơn mình”) và đơn sơ tin vào các “báo
cáo” đó mà không chắt lọc và lắng nghe cả hai phía, khiến có
những trường hợp bị hàm oan: “Một trăm lần nghe nói không
bằng một lần mắt thấy.” Thế mà trong câu chuyện “thấy”
Nhan Hồi ăn vụng, Khổng Tử than: “Ở đời có những việc
chính mắt mình thấy vậy mà không phải vậy!”
§
Muốn giúp đỡ các ứng sinh sửa chữa và hoàn thiện bản
thân, một số nhà đào tạo yêu cầu ứng sinh theo lương tâm
viết ra giấy, theo bản câu hỏi, nhận xét về các ứng sinh
khác, chủ yếu về mặt tiêu cực. Ý hướng thì tốt, nhưng khi
gặp riêng lại làm lộ tên người viết khiến có sự buồn lòng và
mâu thuẩn giữa các ứng sinh, đồng thời họ cũng bị giảm bớt
lòng tín nhiệm và trở nên dè dặt đối với
nhà đào tạo không kín đáo ấy.
Nếu nhà đào tạo chắt lọc, coi như nhận xét của mình rồi đích
thân tìm hiểu, kiểm tra bằng sự gần gũi chăm sóc phục vụ,
xong mới trực tiếp đối thoại với đương sự, giúp đương sự
nhận ra khuyết điểm để tự điều chỉnh, sửa chữa sẽ tốt hơn và
hiệu quả hơn trong bầu khí bình an, huynh đệ và thăng tiến
của cả cộng đoàn.
§
Một số nhà đào tạo không kín đáo, không phân biệt
việc tòa trong và tòa ngoài, đem nói ra điều ứng sinh tín
nhiệm tâm sự hay lỗi lầm thầm kín của họ, rồi lại biện minh
rằng “mọi người đều nói như thế và thiên hạ đã biết hết”,
trong khi dư luận có thể sai, và lời nói của nhà đào tạo lại
vô tình xác nhận cho cái sai đó, oan và bất công cho ứng
sinh ấy. Ai đền bù cho sự tổn thương và thiệt hại đó?!
§
Một số nhà đào tạo “ngây thơ” tin vào thư nặc danh và
áp dụng biện pháp cho người bị tố cáo cách oan uổng, trong
khi đáng ra phải vứt bỏ thư nặc danh và tìm trừng trị đích
đáng kẻ hèn nhát viết thư nặc danh, không dám ký tên chứng
thực điều mình viết cách lừa dối và vô trách nhiệm ấy.
§
Nhằm tính hiệu quả, một số nhà đào tạo “mời” một số
ứng sinh “tín cẩn” làm tay chân cộng tác trong việc kiểm
soát và báo cáo về các ứng sinh khác, kiểu chế độ “mật vụ và
ăng-ten chỉ điểm”, tạo nên sự rối loạn trong cộng đoàn, bao
phủ bởi bầu khí nghi ngờ, sợ sệt, lo âu, thù hằn, mất bình
an…rất tác hại cho công cuộc giáo dục, nếu không muốn nói là
phản giáo dục. Và vô hình chung, số nhà đào tạo dùng kiểu
này bị chính những tay sai của mình lèo lái và điều khiển
theo chủ ý thỏa mãn các mâu thuẫn cá nhân hay tư thù của họ
mà không hay biết! Những kẻ “lừa thầy phản bạn” này
rất khéo lựa lời tâng bốc, nịnh bợ, luồn cúi và a dua lấy
lòng, nhất là nếu người đào tạo đó lại quá sính quyền bính,
quá nhạy cảm và dễ bị tổn thương khi gặp trái ý.
§
Cũng nhằm tính chắc chắn tuyệt đối, một ít nhà đào
tạo lạm dụng những việc thánh thiêng khi gặp những sự kiện
và biến cố cần điều tra làm rõ sự thật, như bắt ứng sinh
đứng trước bàn thờ thánh giá, đặt tay trên Phúc Âm mà thề
các việc tế nhị liên quan đến kỷ luật, hay buộc tố cáo về
người khác. Thay vì đạt được sự thật thì lại tạo cớ phạm tội
cho ứng sinh này vì sợ mà phải miễn cưỡng thề gian, và ứng
sinh khác bị trừng phạt đâm ra thù hằn kẻ tố cáo! Một số nhà
đào tạo biệt đãi, thương riêng một vài ứng sinh, tron khi
lại thiếu công bằng với những người khác như xếp loại, in
trí và định kiến, phân biệt đối xử giàu nghèo, tốt xấu…khiến
cộng đoàn bị phân hoá, mất bình an và do đó, một số người
không ngóc đầu lên được đành mất ơn gọi, như lời thú nhận
chân thành của một thầy giáo: "Khi anh còn học với tôi,
tôi đã đánh cắp ước mơ của anh, và suốt bao nhiêu năm qua
tôi cũng đã làm như thế với bao đứa trẻ khác, tôi rất ân hận
về điều đó." Chớ gì không ai phải ân hận vì mình mà một
hay nhiều ơn gọi đã phải ra đi, trong khi Chúa lại kêu gọi
họ; hoặc cả dám cất nhắc lên người mà Chúa không chọn!
§
Cũng vì mong muốn cái gì cũng phải hoàn hảo, một số
nhà đào tạo quá cầu toàn, đòi hỏi ứng sinh phải thế này thế
nọ ngang với trình độ nhận thức và tu luyện của mình, không
biết rằng như vậy là đốt giai đoạn và đốt cháy luôn cả đời
người, vì người mới vào tu và đang trong tiến trình đào tạo
thì không thể ngang tầm với nhà đào tạo được: họ đang trở
thành và sẽ là tu sĩ, chứ chưa phải đã là
tu sĩ
§
Cũng vì bị thúc đẩy bởi ý muốn có những ứng sinh tốt, một số nhà đào tạo
vội có kết luận và nghiêm khắc sử dụng biện pháp ngay, không
cho ứng sinh biết lỗi lầm, giải thích và biện minh như Cv
25,16 nhắc nhở, thay vì đáng ra phải cho ứng sinh biết lầm
lỗi, cho họ cơ hội và thời gian để thực hiện sự hoán cải và
đổi mới cần thiết: “Xin để cho nó một năm nay nữa, tôi sẽ
đào chung quanh và bón phân, may ra năm tới nó có quả
chăng...”
§
Vì muốn cho ứng sinh nhớ bài học quá khứ để sửa mình,
một số nhà đào tạo hay nhắc lại lỗi lầm cũ, trong khi người
có lầm lỗi đã sửa chữa, không còn tái phạm nữa, khiến họ rất
khổ tâm và nhụt chí. Quá khứ qua rồi thì thôi, lật qua trang
đời mới, cho người ta vui vẻ tiến về tương lai: “Nhân thùy
vô quá, hữu quá tắc cải, thị vị vô quá” (làm người không ai
thoát khỏi lầm lỗi, có lầm lỗi thì phải sửa mình, và khi đã
sửa rồi thì không còn lầm lỗi nữa). Chúa luôn thương xót tha
thứ và ban ơn biến đổi: Mỗi vị thánh đều có một quá khứ và
mỗi tội nhân đều có một tương lai.
§
Một số nhà đào tạo có ý hướng tốt muốn phát triển
trách nhiệm tập thể cao nên áp dụng phương thức cả cộng đoàn
bỏ phiếu đánh giá cuối cùng quyết định cho ai khấn ai không
với tỉ lệ phiếu thuận phải rất cao. Nhưng kết quả không được
như mong đợi, vì việc này vừa giảm nhẹ trách nhiệm của Bề
Trên và Hội đồng đào tạo là những người có ơn đoàn sủng và
nghiệp vụ để làm việc đó, vừa trao quyền quyết định quá lớn
cho phán đoán của các thành viên khác không có trách nhiệm,
ơn đoàn sủng và nghiệp vụ đào tạo. Những người này có thể
chưa đủ trưởng thành để cân nhắc trách nhiệm lương tâm của
mình đối với Giáo Hội, Nhà Dòng, và chính cuộc đời ơn gọi
của các đương sự, khi sử dụng phiếu bầu theo cảm tính hay
đầu óc phe nhóm, lớp này lớp kia, để cất nhắc người cùng phe
và trù dập người của phe đối lập, hoặc không ưa. Ý kiến hay
phiếu bầu của họ nên chỉ có giá trị tham khảo để những người
lãnh đạo biết thêm tình hình của tập thể cũng như của một số
trường hợp cá biệt hầu uốn nắn xây dựng một cộng đoàn tốt
hơn, chứ không nên cho chúng giá trị quyết định.
§
Một số nhà đào tạo thi hành nhiệm vụ thiếu sự hài
hóa, phân cấp rõ ràng, “dẫm chân lên nhau” dẫn tới tình
trạng xung đột quyền bính, tranh chấp uy tín, ảnh hưởng và
quyền hạn với nhau, gây ảnh hưởng xấu tác hại trên việc đào
tạo ứng sinh, đời sống và sứ vụ của cấp dưới, kiểu “hai
con trâu đánh nhau, con ruồi chết oan”! Nếu ở trên mà đã
vậy thì ở dưới sẽ làm sao?
§
Tóm lại, lắm khi tính khí, quan điểm và cách làm việc bất cập hay thái
quá của một số nhà đào tạo đã gây nên những thách đố và thử
thách, những chịu đựng “lý của kẻ mạnh”, phục tùng miễn
cương chứ không vâng lời thật lòng và đau khổ không vượt qua
được đối với một số ứng sinh làm cho Giáo Hội mất đi một số
ơn gọi đích thực, mà càng ngày sẽ càng ít đi.
2.
Hướng tới tương lai: CHÚA
GIÊSU, KIỂU MẪU CỦA CÁC NHÀ ĐÀO TẠO
Nếu công cuộc đào tạo nhằm làm cho ứng sinh càng ngày càng nên đồng hình
đồng dạng với Chúa Kitô, thì trước hết nhà đào tạo phải nỗ
lực nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu Kitô, kiểu mẫu
đích thực của nhà đào tạo: suy nghĩ như Chúa Kitô suy nghĩ,
thấy như Chúa Kitô thấy, hành động như Chúa Kitô hành động,
cầu nguyện như Chúa Kitô cầu nguyện, hướng dẫn như Chúa Kitô
hướng dẫn và yêu thương như Chúa Kitô yêu thương, nhất là
nhà đào tạo phải giúp ứng sinh trực tiếp cam kết mật thiết
theo chính Chúa Giêsu, để khi “thần tượng nhà đào tạo” có
sụp đổ hay hoàn cảnh có thế nào thì họ vẫn bền vững với lý
tưởng ơn gọi đã lựa chọn.
§
Khi rửa chân cho các tông đồ xong, Chúa Giêsu bảo họ: “Thầy đã nêu
gương cho anh em...” Và thánh Phaolô cũng mời gọi “anh
em hãy bắt chước tôi như tôi đã bắt chước Đức Kitô.” Nhà
đào tạo phải bắt chước Chúa Giêsu trong việc đào tạo ứng
sinh, cũng như trong việc dạy dỗ và hoán cải mọi hạng người.
Chúa Giêsu là kiểu mẫu tuyệt vời của các nhà đào tạo.
§
Nhà đào tạo phải theo gương mẫu hoàn hảo là Chúa
Giêsu, Đấng đã rửa chân cho các môn đệ, yêu thương và đối xử
với họ như bạn hữu; sống và đồng hành với họ trên hành trình
trưởng thành đức tin và thiêng liêng. Bằng yêu thương nhẫn
nại, tận tâm săn sóc, Ngài biết rõ họ từng người một, tính
tình, phẩm chất, những điểm mạnh điểm yếu của họ. Ngài nhân
hậu và bao dung trước yếu đuối, khuyết điểm, tham vọng trần
thế, cứng đầu cứng cổ, yếu lòng tin và chậm hiểu mầu nhiệm
Nước Trời của họ và kiên nhẫn chờ đợi sự giáo dục bổ túc của
Chúa Thánh Thần.
§
Trước khi chọn và huấn luyện 12 tông đồ để thiết lập
Giáo Hội và sai đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã cầu
nguyện suốt đêm với Chúa Cha cho họ, và trao họ cho Cha trên
trời gìn giữ bảo vệ. Nhà đào tạo phải luôn cầu nguyện cho
chính mình và cho các ứng sinh được giao phó cho mình đào
tạo, vì chỉ có Chúa biết rõ từng con người, và chỉ có Chúa
mới thay đổi được một con người.
§
Gương sáng của nhà đào tạo rất hiệu quả, như Ca dao
nói “Lời nói lung lay gương bày lôi kéo.” Chính vì
thế, ĐGH Phaolo VI nói “Thế giới ngày nay tin vào chứng
nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có tin vào thầy dạy là bởi
vì thầy dạy đó là chứng nhân.” Nhà đào tạo không nhất
thiết phải hoàn hảo hay là thánh, nhưng phải là chứng tá một
đời sống tu trì đích thực. Các người trẻ sẽ nhạy cảm đối với
gương sáng của một nhà đào tạo khiêm tốn và chân thực.
§
Chúa Giêsu suốt đời tìm thực hiện ý Chúa Cha, nhưng không thoát khỏi
những lúc giằng co với ý riêng mình (“Lạy Cha, nếu có thể
được, xin cất chén đắng này xa con...”). Nhà đào tạo
không được cả gan đồng hóa ý mình với ý Chúa rồi áp đặt lên
ứng sinh. Trái lại, phải khám phá điều Chúa Thánh Thần muốn
nói với ứng sinh qua mình, và cũng phải khiêm tốn tìm biết
điều Chúa Thánh Thần muốn nhắc nhở mình qua ứng sinh.
§
Chúa Giêsu cũng có những nỗi
buồn thất bại (“Linh hồn
Thầy buồn có thể chết được… Một người trong các con sẽ phản
nộp Thầy… ”). Nhà đào tạo phải biết khiêm tốn chấp nhận
thất bại, nghịch cảnh và trái ý, không phải lúc nào mọi sự
cũng được như ý mình muốn cả đâu… Trái lại, phải luôn tin
tưởng mãnh liệt rằng đào tạo là thay thế và biến đổi, thay
thế cái xấu bằng cái tốt, biến đổi người chưa tốt thành
người tốt và biến đổi người tốt thành người tốt hơn, trong
tiến trình thành nhân rồi mới thành thánh nhân.
§
Chúa Giêsu thừa nhận tội của Madalêna, nhưng Ngài
không đóng chặt lại ở tội quá khứ, mà đã mở rộng con đường
biến đổi tương lai cho bà trở thành vị thánh nữ loan báo tin
mừng phục sinh. Chúa ghét tội nhưng thương tội nhân. Nhà đào
tạo phải tin tưởng và hy vọng vào sự biến đổi tốt đẹp trong
tương lai của ứng sinh, nhớ rằng “mỗi vị thánh đều có một
quá khứ và mỗi tội nhân đều có một tương lai.” Thấu cảm,
độ lượng và tha thứ như Chúa: “Cây sậy đã rạp xuống Ngài
không bẻ gãy, ngọn đèn còn leo lét khói Ngài không dập tắt.”
§
Trong dụ ngôn đứa con hoang đàng của Chúa Giêsu,
người cha không màng đến lời xin lỗi
của đứa con trở về, một chỉ
vui mừng “vì con ta đã mất nay tìm thấy, đã chết nay sống
lại.” Nhà đào tạo không nhắc lại lầm lỗi quá khứ của ứng
sinh và hành xử căn cứ vào lầm lỗi cũ; mọi sự đã đổi mới,
hãy giúp họ lật qua trang đời mới: Chiếc đồng hồ
bị hư, sau khi sửa rồi không
ai còn gọi nó là đồng hồ hư nữa. Bản chất con người là lầm
lỗi, bản chất Thiên Chúa là tha thứ: “Nếu Chúa nhớ hoài
sự lỗi nào ai chịu nổi được ư?”
§
Dù Giuđa toan tính phản nộp Ngài, Chúa Giêsu vẫn luôn
kín đáo nhắc khéo Giuđa nhiều lần, cho ông cơ hội sửa mình
(“một người trong các con sẽ nộp thầy, việc gì con tính
làm hãy làm mau đi…”). Nhà đào tạo phải kín đáo, không
đem lỗi lầm hay tâm sự của ứng sinh và của người khác nói ra
với mọi người, gây thiệt hại và làm mất lòng tín nhiệm của
đương sự cũng như của những người nghe. Người ta sẽ đóng
lòng lại và không ai dám nói gì với mình nữa. Nhiều người
giữ ấn tòa giải tội mà không giữ bí mật linh hướng, trong
khi chúng có cùng qui trình và yêu sách.
§
Nhiều lần trong Phúc Âm, Chúa Giêsu dùng lối hỏi gợi
ý để dạy dỗ: “Các con nghĩ sao?... Ông Simong, tôi có
điều này muốn nói với ông…” Nhà đào tạo cũng nên dùng “kích
biện pháp” hay “phương pháp hộ sinh” của Socrate
(bà đỡ chỉ giúp người sản phụ cho ra đời đứa con của chính
bà) để giúp ứng sinh tự đào tạo, tự đưa ra sáng kiến và
quyết tâm chọn lựa, như thế mới bền. Nhờ Chúa hỏi mà Phêrô
tuyên xưng đức tin và Chúa có cơ hội để dạy điều quan trọng
hơn. Nhà đào tạo nên triệt để vận dụng phương pháp này,
trong tinh thần đối thoại, kể cả trong “vâng lời đối
thoại” liên quan đến quyền bính mà Vatican II đề xướng.
§
Chúa Giêsu trao ban cho các tông đồ giới răn mới của Ngài là “Các con
hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con”. Ta
thế nào thì Chúa vẫn yêu thương ta như thế ấy, và Ngài sẽ
yêu thương ta cho đến cùng. Nhà đào tạo phải có lòng yêu
thương. Không có lòng yêu thương độ lượng không thể đào tạo
được: Loại bỏ lỗi lầm nhưng thương yêu người lầm lỗi và tạo
cơ hội cho họ hoán cải nên tốt. “Lòng yêu thương chịu
đựng tất cả, tha thứ tất cả, hy vọng tất cả, biến đổi tất
cả…” Chính tình yêu thương ấy làm cho cộng đoàn phát
triển với nhiều ơn gọi mới: “Xem kìa, họ yêu thương nhau
là dường nào!”
§
Thánh Phaolô căn dặn Timôthê về việc tuyển chọn các
trợ tá: “Họ phải được thử thách trước đã, rồi mới được
thi hành chức vụ...” (1Tm 3,10).Thử thách là cần thiết
và có nhiều thứ, nhưng nhà đào tạo nhân từ không đưa ra
những thử thách không cần thiết, hay vượt quá sức ứng sinh,
nhất là không bao giờ “gài bẫy” cho họ mắc phải để có cớ
trừng trị.
§
Cv 25,16 ghi lời Festô: “Tôi đã trả lời họ rằng
người Rôma không có lệ nộp bị cáo nào, trước khi đương sự ra
đối chất với nguyên cáo, và được cơ hội biện hộ về lời tố
cáo.” Ở đời ai mà chẳng có lúc lầm lỗi. Nhà đào tạo cần
cho ứng sinh biết lỗi, nghe họ giải thích, cho họ cơ hội và
thời gian để sửa chữa; khi họ không sửa được và lỗi lầm trở
nên bản chất rồi hẳng hay. Và cho họ ra về cũng với sự tôn
trọng, (chẳng hạn như “vì không thích hợp với đời tu”), chứ
không rêu rao lầm lỗi của họ nên bị loại, bị đuổi… làm tổn
thương nhân phẩm và danh dự của họ. Các cựu ứng sinh nầy
cũng là kho tàng của Nhà Dòng, họ sẽ cộng tác vào công cuộc
đào tạo các bạn đồng môn của họ cách này hay cách khác. Họ
cũng góp phần cách tích cực và hữu hiệu vào đời sống và sứ
mệnh của Giáo Hội, về nhân lực cũng như vật lực.
§
Trong những lúc các tông đồ bị dao động và sợ hãi, bán tín bán nghi, Chúa
Giêsu lập tức có mặt: “Các con đừng sợ, chính Thầy đây!
Bình an cho các con!” Nhà đao tạo phải có khả năng kiến
tạo sự bình an, bầu khí bình an và an toàn, đồng thời đem
lại sự bình an cho các ứng sinh, nhất là trong những lúc họ
gặp thử thách, bất hòa, nghi nan, do dự, tiến thối lưỡng nan
trước con đường lý tưởng cao cả nhưng nhiều yêu sách một
bên, và bên kia là sức con người dòn mỏng yếu đuối đối diện
với những dao động, chiến đấu tình cảm và tính dục, cũng
như những khó khăn trái ý và đau khổ, nghịch cảnh đa dạng
khác.
§
Chúa Giêsu nói với các tông đồ: “Thầy còn nhiều
điều cần nói với các con...” (x. Ga 16,12-13). Thánh
Phaolô cũng đã viết: “Tôi đã cho anh em uống sữa, chứ
không phải đồ ăn cứng, bởi khi ấy anh em chưa sao chịu nổi,
mà cả bây giờ anh em cũng chưa chịu nổi đâu!” (1 Cr
3,2). Nhà đào tạo phải nhẫn nại, không đòi hỏi những tiêu
chuẩn đánh giá quá cao, so với trình độ tuổi tác, kiến thức,
sự trưởng thành nhân bản và thiêng liêng của ứng sinh: Không
đốt giai đoạn, vì đốt giai đoạn là đốt cháy một đời người.
§
Tóm lại, nhà đào tạo tốt phải theo sát mẫu gương Chúa
Giêsu: suy nghĩ với đầu óc của Chúa Giêsu, nhìn sự việc với
con mắt Chúa Giêsu, hành động với sức mạnh của Chúa Giêsu,
phán đoán với sự khôn ngoan của Chúa Giêsu, sử dụng biện
pháp với lòng nhân hậu của Chúa Giêsu, yêu thương với con
tim Chúa Giêsu... Công cuộc đào tạo sẽ thành công mỹ mãn,
tương lai của Giáo Hội và Nhân Loại sẽ tốt đẹp hơn.
IV. KẾT LUẬN
Nói về
đào tạo, nhất là ở đây lại nói về đào tạo các nhà đào tạo
nữa thì không thể nào thấu tình đạt lý hết được. Tôi xin hết
lòng cám ơn Hội Nghị đã chịu khó nghe, và thành thật xin lỗi
Hội nghị vì có khi phải nghe cả những điều khó chịu nữa.
Để kết thúc, tôi xin nêu lên
mấy tư tưởng cuối cùng này:
- “Nhà đào tạo tầm thường thì thích nói, nhà đào tạo
tốt thì giải thích, nhà đào tạo giỏi thì chứng minh và nhà
đào tạo khéo léo thì gợi hứng.”
- Các vị đại thánh thường đủ khiêm tốn để nhìn nhận
mình là kẻ có tội. Chúng ta nhìn nhận mình không hoàn hảo và
không ảo tưởng chờ đợi các bảo đảm của việc đào tạo. Không
thể thấy trước được những gì sẽ xảy ra trong đời một con
người về lâu về dài. Lòng khiêm tốn sẽ giúp chúng ta tiến
nhanh hơn về sự khôn ngoan của con tim.
- Hãy thực thi lòng nhân hậu và để Chúa Thánh Thần làm
phần còn lại. Như thế chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn, tự
tin hơn, và có thể làm công việc đào tạo tốt hơn. Hãy để ân
sủng Chúa làm việc trong chúng ta. Hãy để Chúa dẫn dắt chúng
ta. Hãy tin tưởng vào Chúa và tha nhân.
- Và nếu chúng ta có đầy khuyết điểm và khốn cùng, hãy
tạ ơn Chúa. Có lẽ điều đó sẽ giúp chúng ta trở nên nhà đào
tạo khéo léo. Cái quan trọng chính là tấm lòng của chúng ta:
Ai không yêu thương thật sự không thể làm nghề đào tạo được.
- Chúng ta có thể nói rằng làm nhà đào tạo là một ân
sủng, như người phương Đông hay nói: “hạnh phúc lớn nhất
trong đời là có trong tay nhân tài để đào tạo”. Chúng ta cho
bao nhiêu thì chúng ta nhận bấy nhiêu, càng cho đi chúng ta
càng nhận lãnh. Đón tiếp và đào tạo người trẻ hôm nay là một
cơ may để chúng ta thực hiện chính mình và thi thố một tình
phụ tử hay mẫu tử lành mạnh, bởi vì chúng ta đón tiếp họ
nhân danh Chúa Giêsu, Đấng đã phán “Hãy đến và theo Ta...
Các con là bạn hữu của Thầy”.
Bùi Chu, Lễ Thánh Cả Giuse 2008
Tài liệu đề nghị tham khảo
- ĐTC Biển Đức XVI, Thư về Giáo Dục ngày 23/2/2008Bộ Giáo dục Công giáo,
Những chỉ dẫn liên quan đến việc chuẩn bị các nhà đào tạo chủng viện
- HĐGMVN, Thư Mục Vụ 2007 về Giáo dục “Giáo dục hôm nay, Xã hội và Giáo hội ngày mai
- Micae-Phaolô Trần Minh Huy, Đào tạo và Tự đào tạo thiêng liêng của các linh mục
tương lai trong bối cảnh Việt Nam ngày nay
- Guy Lespinay, Là nhà đào tạo hôm nay, Đào tạo đời sống thánh hiến, Mediaspaul Amadeo Cancini,
Giáo Dục – Đào Tạo – Đồng Hành, Editions des Béatitud |