Lịch sử và ý nghĩa Bức Linh Ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

Thứ Hai, 24-08-2020 | 10:22:21

LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA BỨCLINH ẢNH ĐỨC MẸ HĂNG CỨU GIÚP

 

Gốc tích

Tương truyền ngày xưa Thánh Luca có vẽ một bức họa Đức Mẹ bồng Chúa Giêsu Hài Đồng. Thánh Luca là người đã viết những trình thuật liên quan đến Đức Mẹ thật chi tiết. Có người cho rằng sở dĩ ngài đã viết được như thế là vì được Đức Mẹ “thủ thỉ” kể cho nghe. Khi bức họa được dâng lên cho Mẹ xem thì Mẹ phán: “Ơn thánh Mẹ sẽ theo bức ảnh này.”

Sang đến thế kỷ thứ V, tại thành Constantinople, có một bức họa rất thời danh được mọi người ca ngợi là tuyệt tác, lịch sử ghi dấu dưới cái tên Hodegetria (Đức Mẹ dẫn đường). Thời đó người ta cho rằng Thánh Luca là người đã phác hoạ nên nguyên bản bức ảnh này.

Vào đầu thế kỷ XII, tại đảo Crêta, Địa Trung Hải, từ bức hoạ Hodegetria, các hoạ sĩ dung hoà hai quan niệm hội hoạ Âu – Á để vẽ ra nhiều bức ảnh thời danh. Ngày nay, nguyên bản bức Hodegetria đã bị thất lạc. Tuy nhiên, người ta còn giữ được nhiều bản phụ mô phỏng theo bức hoạ đầu tiên;linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp là một trong các phụ bản đó.

Đến cuối thế kỷ XV, trên đảo Crêta, linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã được các tín hữu sùng kính đặc biệt và được mệnh danh là linh ảnh hay làm phép lạ. Thế rồi một sự cố bất thường xảy ra. Người ta biết được biến cố này là nhờ tìm thấy tại văn khố Vatican ba mảnh giấy rất cũ, là các bản sao của một mảnh giấy ghi lại lịch sử của linh ảnh.

Sau đây là nội dung mảnh giấy đó.

Linh ảnh bị đánh cắp

Cuối thế kỷ XV, một thương gia buôn bán rượu, người đảo Crêta, đã ăn trộm linh ảnh trong một tu viện và đem qua Rôma. Sau khi thoát khỏi một tai nạn đắm tàu, ông đến Rôma và lâm bệnh nặng. Trước lúc qua đời, ông kể lại cho một người bạn Ý nghe việc ông đã đánh cắp linh ảnh đó từ đâu và nó được tôn kính như thế nào. Với giọng yếu ớt của người hấp hối, ông khẩn khoản nài xin người bạn Ý đem linh ảnh trả lại cho một nhà thờ nào đó để được công khai tôn kính.

Sau khi người lái buôn chết, người bạn lục lọi trong đống hàng hoá thì quả thật, có thấy linh ảnh Mẹ. Ông định tâm đem linh ảnh đến nhà thờ gần nơi ông ở. Nhưng đang lúc đó, vợ ông biết được, ngăn cản ông trả lại linh ảnh và đòi giữ lại cho bằng được. Giữa lời hứa với người quá cố và sự biện bạch của người vợ thân yêu, ông đã chiều lòng vợ, không đem trả linh ảnh. Thời gian qua đi, ông quên lời cam kết và linh ảnh vẫn được giữ lại trong phòng của vợ chồng ông suốt 9 tháng.

Nhưng một hôm, Đức Mẹ hiện ra cho ông biết: ông không có quyền giữ lại linh ảnh mà phải đem đến một nơi xứng đáng hơn. Ông làm ngơ. Mẹ lại hiện ra lần hai, ông vẫn ngoan cố. Mẹ lại hiện ra lần nữa cảnh cáo ông. Lần này ông hoảng sợ, ăn không ngon, ngủ không yên. Ông đem chuyện kể cho vợ nghe và xin vợ thi hành ý định của Mẹ. Vợ ông là người ương ngạnh, khi nghe ông nói thì cho là điều vu vơ mộng mị nên không đồng ý. Mẹ lại hiện ra lần thứ tư và bảo ông: “Ta đã hiện ra bao lần để cảnh báo con mà con không chịu nghe. Vậy con phải ra khỏi nhà này trước, rồi Ta sẽ đi đến một nơi xứng đáng hơn”. Ít ngày sau, con người “nể vợ” này ngã bệnh và qua đời.

Trước cái chết đột ngột của chồng, bà vợ cứng lòng vẫn chưa lay chuyển, bà cứ khư khư giữ lại bức ảnh. Một hôm, đứa con gái 6 tuổi của bà hớt hải chạy đến nói với bà: “Mẹ ơi, con vừa gặp một bà đẹp lắm. Bà ấy bảo con về nói với mẹ  rằng Đức  Mẹ  Hằng  Cứu  Giúp  muốn được trưngbày trong một ngôi thánh đường ở thành Rôma để dân chúng sùng bái, và Người muốn ra khỏi nhà chúng ta”.

Nghe con nói vậy, bà mẹ bắt đầu nao núng, phát nghi là mình đã nhúng tay vào cái chết của chồng. Bà trù trừ… rồi quyết định vâng lời Đức Mẹ. Nhưng phút cuối bà lại gặp phải bà hàng xóm khô đạo. Bà này khi nghe chuyện liền nói với bà: “Hơi đâu tin chuyện trẻ con, Đức Mẹ bận tâm chi bức ảnh nhân tạo này. Không tin bà cứ đem quăng bức ảnh vào lửa, nó sẽ bốc cháy như bất cứ thanh củi gỗ nào. Nếu bà ngượng tay, bà để tôi.” Rồi bà ta còn hỗn láo nhiều lời về Đức Mẹ nữa.

Đến chiều tối, lúc về nhà, bà khô đạo này đã lăn ngã xuống đất, trong mình đau nhức, ở cánh tay có cái ung độc mọc ra, sưng lên mỗi lúc một to. Trước cơn bệnh kỳ lạ, bà sực nhớ đến lỗi mình đã phạm. Bà khóc lóc, kêu van, xin đem ảnh Mẹ đến. Trước tôn nhan Mẹ, bà cầu nguyện xin ơn tha thứ. Một sự lạ bất ngờ xảy ra: tay bà vừa đụng vào linh ảnh thì bệnh lạ kỳ kia biến tan, không để lại vết tích gì.

Một câu hỏi nảy ra trong đầu hai người phụ nữ sám hối này: Mẹ muốn chúng ta đưa Mẹ đi đâu? Mẹ liền hiện ra với em bé và nói: “Con hãy nói với mẹ của con là Ta muốn được trưng bày ở khoảng giữa nhà thờ Đức Bà Cả và nhà thờ Thánh Gioan Latêranô, tức trong ngôi thánh đường kính Thánh Mátthêu”.

Lần này, người đàn bà nghe theo lệnh của Đức Mẹ và đã liên lạc với các Cha Dòng Augustinô, là những người đang phụ trách nhà thờ Thánh Mátthêu. Bà mời các Cha đến nhà, kể lại sự tình và chuyển giao linh ảnh cho các ngài.

Ba trăm năm tại nhà thờ Thánh Mátthêu

Ngày 27/3/1499, các Cha Dòng Thánh Augustinô đã tổ chức một đám rước cực kỳ long trọng đưa linh ảnh Mẹ về nhà thờ Thánh Mátthêu. Cũng vào ngày ấy, Mẹ mở đầu “sứ mệnh hằng cứu giúp” của Người bằng một phép lạ cả thể: một người đàn ông bị bại tay nhiều năm đã khiêm nhường cầu xin với Mẹ, nài xin người ta cho được chạm vào ảnh Mẹ, và khi vừa chạm vào ảnh Mẹ, cánh tay khô cằn kia liền được chữa lành ngay tức khắc. Ông liền đi theo đám rước hát mừng ngợi khen Mẹ.

Đây là phép lạ đầu tiên Đức Mẹ làm tại kinh thành Rôma. Phép lạ khai mào cho một chuỗi dài ơn thiêng mà Mẹ sẽ làm dưới tước hiệu “Mẹ Hằng Cứu Giúp”.

Linh ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp đã được tôn vinh gần 3 thế kỷ trên đồi Esquilinô, trong thánh đường kính Thánh Mátthêu. Dân chúng tấp nập đưa nhau tới kính viếng và cầu nguyện với Mẹ Hằng Cứu Giúp và Mẹ đều đáp lại bằng muôn vàn ơn thiêng.300 năm tước hiệu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã chinh phục tâm lòng giáo dân Rôma.

Nhưng rồi một biến cố xảy ra.

Năm 1798, khi rầm rộ tiến vào Rôma để công bố cái gọi là “nền cộng hoà tự do cho người Rôma”, đạo binh của Napoléon I đã mặc sức hoành hành, phá huỷ gần 300 ngôi thánh đường, trong đó có nhà thờ kính Thánh Mátthêu. Các tu sĩ Dòng Augustinôđã phải lên đường tản cư, mang theo bức ảnh về tu viện Đức Thánh Trinh Nữ ở Posterula.

Vì ở Posterula đã có bức ảnh Đức Trinh Nữ trong nguyện đường, nên các ngài đặt linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trong một nhà nguyện nhỏ của Dòng.

Vị tu sĩ già và chú giúp lễ

Thời kỳ loạn lạc kéo theo năm tháng dài thầm lặng. Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp như bị quên lãng. Nhưng vẫn còn có một người đi theo Mẹ trên đường lưu lạc. Đó là thầy Augustinô Orsetti. Nay thầy đã là một cụ già 86 tuổi, sức đã yếu, mắt đã loà, nhưng không ngày nào thầy quên đến quỳ trước linh ảnh Mẹ để cầu nguyện.

Từ năm 1838 đến 1851, tại nhà thờ Đức Trinh Nữ Posterula, có một cậu bé người Ý thường đến giúp lễ, tên là Marchi. Thầy Orsetti và cậu lễ sinh trở nên thân thiện. Cậu thích ngồi bên thầy già để nghe kể lại sự tích về linh ảnh Đức Mẹ và đã nhiều lần thầy Orestti dẫn bé Marchi đến trước linh ảnh linh thiêng đề cầu nguyện.

Khi biết mình sắp rời khỏi cõi đời, thầy gọi Marchi đến và như muốn truyền cho cậu tất cả mối tâm sự của mình: “Con hãy nhớ, linh ảnh này trước đây đã được tôn kính đặc biệt tại nhà thờ kính Thánh Mátthêu. Đừng quên nghe con… Con có hiểu không? Ôi, ngày xưa Đức Mẹ đã làm bao nhiêu phép lạ!”

Cái giọng run run của thầy càng làm cho cậu bé cảm động. Cậu có ngờ đâu mình đến đây để thừa tự một lời di trối. Ít lâu sau, thầy Orsetti qua đời (1853).

Năm 1855, Marchi xin gia nhập Dòng Chúa Cứu Thế.

Duyên “tiền định”

Cũng chính năm ấy, Dòng Chúa Cứu Thế mua Villa Caserta tại Rôma để lập nhà chính. Sau khi hoàn thành công việc xây cất, năm 1862, một thành viên văn khố là cha Edouard Schwindehammer, trong lúc lục lọi thư viện, đã tìm thấy một mảnh giấy ghi lại những truyện lạ về linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được trưng bày tại nhà thờ Thánh Mátthêu trên đồi Esquilinô, mà nay, trên chính mảnh đất này một ngôi thánh đường nguy nga vừa được xây lên để dâng kính Thánh Anphongsô, Đấng Sáng Lập Dòng Chúa Cứu Thế. Và chính trong vườn của Nhà Dòng, người ta còn thấy vết tích của ngôi thánh đường kính Thánh Mátthêu bị phá huỷ trước đây. Cha Edouard mang mảnh giấy đọc cho anh em nghe.

Cha Marchi như người ngủ mê bỗng tỉnh dậy, vui mừng nói: “Vậy thì linh ảnh ấy ngày nay vẫn còn, tôi còn biết bây giờ nó đang ở đâu nữa. Vì chính mắt tôi đã từng thấy nhiều lần. Nguyên lúc còn nhỏ, tôi thường hay đi lại Dòng Thánh Augustinô. Một thầy dòng đã có tuổi và rất đạo đức tên là Orsetti không lần nào gặp tôi mà không chỉ và nói cho tôi nghe về linh ảnh hay làm phép lạ đó. Linh ảnh gần như không được tôn kính, không được trang hoàng gì, ngay cả bên cạnh không có ngọn đèn để thắp nữa… Linh ảnh ấy bị bụi bặm phủ đầy và chẳng ai đến kính viếng. Trong nhiều năm giúp lễ ở đó, tôi đã nhiều lần ngắm nhìn linh ảnh ấy.”

Cũng trong năm đó, tại nhà thờ Chúa Giêsu của Dòng Tên, linh mục Francesco Blosi, một nhà giảng thuyết trứ danh, đang lần lượt giảng về các bức ảnh Đức Mẹ trong thành Rôma. Ngày 7/2/1863, khi giảng về linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, ngài nói: “Kính thưa anh chị em, hôm nay tôi đến để nói với anh chị em về một linh ảnh Đức Mẹ, vốn rất nổi tiếng nhờ những phép lạ. Nhưng tiếc thay, linh ảnh linh thiêng ấy đã thất lạc 70 năm nay, từ ngày biến cố chiến tranh bùng nổ, không có dấu hiệu nào cho biết linh ảnh ấy hiện giờ ở đâu (…) Ước vọng của Mẹ là được trưng bày trong ngôi nhà thờ khoảng giữa hai Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả và Thánh Gioan Latêranô. Chúng ta biết rằng vinh dự tìm thấy linh ảnh được dành cho thời đại chúng ta. Ai có thể biết hết những ơn lành được ban xuống trên thế giới với việc hồi sinh lòng tôn kính Đức Trinh Nữ, dưới tước hiệu Hằng Cứu Giúp mà Người đã chọn cho mình?”.

Bài giảng hùng hồn ấy vọng đến tai các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, các ngài chưa biết gì về ước muốn của Đức Mẹ. Cái tin kia khiến các ngài rất vui sướng. Giữa hai Vương Cung Thánh Đường, không có ngôi nhà thờ nào ngoài nhà thờ kính Thánh Anphongsô. Phải chăng Đức Mẹ đã tiền định cho các ngài duy trì linh ảnh? Với niềm mong ước, các ngài đã cầu nguyện, tìm tòi, tra cứu, âm thầm dõi theo bước chân của Đức Mẹ trong ba năm. Quả thực, linh ảnh các ngài cần tìm còn trong nhà nguyện nhỏ Posterula.

Dòng Chúa Cứu Thế đón Mẹ

Ngày 11/12/1865, Cha Bề Trên Cả Mauron và cha Marchi xin vào yết kiến Đức Thánh Cha Piô IX. Sau khi thuật lại cho Đức Thánh Cha nghe lai lịch linh ảnh và niềm mong ước của Mẹ, cha Mauron xin rước linh ảnh Mẹ về nhà thờ Thánh Anphongsô để thực hiện mong muốn của Mẹ. Ngài còn dâng lên Đức Thánh Cha một bản tường trình các sự việc do cha Marchi viết và nhận thực.

Đức Thánh Cha Piô IX, một tông đồ nhiệt thành của Đức Mẹ, rất cảm động, vì thân mẫu ngài đã từng dẫn ngài đến cầu nguyện trong nhà thờ Thánh Mátthêu. Ngài không ngần ngại khi có thể làm hiển danh Mẹ. Ngài liền chuẩn y, ban phép cho các cha Dòng Chúa Cứu Thế rước linh ảnh Mẹ về với điều kiện thay thế cho nguyên bản bằng một bức hoạ mô phỏng để lại cho các cha Dòng Augustinô. Các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế vui sướng trước niềm hân hạnh được Đức Mẹ chọn làm kẻ giữ gìn linh ảnh của Người và nhiệt tâm chuẩn bị cho một cuộc rước linh đình.

Ngày 19/1/1866, cha Marchi và cha Ernest Bresciani đến tu viện Posterula để thương lượng về việc chuyển giao linh ảnh. Bước vào ngôi nhà nguyện nhỏ, cha Marchi nhớ lại cách đây 15 năm, khi còn là chú giúp lễ bé nhỏ. Cha cảm động ngước nhìn lên linh ảnh Mẹ còn đó, cũng một vẻ hiền lành, khả ái, cũng màu sắc ấy, nhưng năm tháng đã ghi lên linh ảnh nhiều vết tang thương.

Sau khi đã lãnh nhận linh ảnh Đức Mẹ từ tay Cha Bề trên Tu viện Posterula chuyển giao, các Cha Dòng Chúa Cứu Thế đem linh ảnh về nhà, mời hoạ sĩ trứ danh Leopold Nowotny người Ba Lan đến tu bổ lại nguyên bản.

Sau 70 năm trong bóng tối, ngày 26/4/1866, linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ra mắt lần thứ hai với dân thành Rôma. Linh ảnh Mẹ được rước qua các đường phố Rôma hết sức trọng thể.

Trong lúc linh ảnh Mẹ đi ngang qua một con phố, bao lời kinh dâng Đức Mẹ vang lên, thì trong một căn nhà nhỏ bên đường đang có cảnh rất đau thương: một em bé bốn tuổi đang hấp hối trước đôi mắt bất lực của bà mẹ. Bà mẹ bỗng vụt ra một sáng kiến. Bà ẵm con chạy ra cửa sổ, với một lòng trông cậy mãnh liệt, bà nói to vọng qua cửa sổ: “Lạy Mẹ nhân từ, xin Mẹ hãy chữa cho con của con khỏi bệnh hoặc xin cho nó về thiên đàng.” Bỗng nhiên đứa bé tỉnh lại, bệnh tình thuyên giảm dần… Ngày hôm sau, hai mẹ con đến trước bàn thờ Đức Mẹ thắp một cây nến để tạ ơn.

Chuyện thứ hai, trong một nhà khác, một bé gái lên tám, chân bị tê liệt đã bốn năm, khó nhọc lắm mới cử động được. Lúc cuộc rước linh ảnh Mẹ đi qua, người mẹ đứa bé liền cầu xin Đức Mẹ chữa bệnh cho con mình. Đứa bé bị xúc động mạnh, bệnh tình khỏi đi một nửa. Hôm sau bà giục con đến trước bàn thờ Đức Mẹ cầu nguyện rằng: “Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ hãy hoàn tất việc Mẹ đã khởi sự.” Tức khắc, dước con mắt kinh ngạc sửng sốt của mọi người, em bé đứng dậy ngay và đi lại như thường.

Đó là hai ơn lạ đầu tiên được ghi vào sổ vàng chính thức ngày Đức Mẹ ra mắt dân thành Rôma nơi thánh đường kính Thánh Anphongsô. Linh ảnh Đức Mẹ được trưng bày nơi bàn thờ chính.

Ngày 5/5/1866, Đức Thánh Cha Piô IX thân hành đến kính viếng Mẹ nơi ngôi thánh đường mới và uỷ thác cho các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế phải truyền bá Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cho toàn thế giới. Nhìn lên linh ảnh Mẹ, ngài kên lên: “O quam formosa est… Ôi, Mẹ đẹp thật!”

Ngày 23/6/1867, sau tuần Tam Nhật Thánh long trọng, các kinh sĩ thuộc Hội Kinh Sĩ Thánh Phêrô tại Rôma đã tổ chức một nghi lễ đặc biệt để tôn kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Trước sự hiện diện của đám đông khách hành hương, các kinh sĩ đã đặt một triều thiên quí giá lên đầu Chúa Giêsu Hài Đồng và một triều thiên khác trên đầu Đức Mẹ.

Sau đó, các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế đã chọn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp làm bổn mạng cho sứ vụ chính của Dòng là giảng đại phúc.

Vào ngày 23/05/1871, qua sắc lệnh của Đức Hồng y Patrizi, Hội Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Thánh Anphongsô đã chính thức được Tòa Thánh phê chuẩn.

Ngày 31/03/1876, với sắc lệnh được làm tại Rôma, gần Tòa Phêrô, năm thứ 31 triều đại Giáo hoàng của mình, Đức Thánh Cha Piô IX đã nâng Hội Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Thánh Anphongsô lên thành Tổng Hội Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Thánh Anphongsô với tất cả đặc ân của một Tổng Hội.

Ngày ngày dân chúng lũ lượt kéo nhau lên đồi Esquilinô, vào đền thờ Thánh Anphongsô để chiêm ngắm và cầu nguyện với Mẹ. Từ nay, nơi này cũng như trên khắp các lục địa, Đức Mẹ tiếp tục thi ân với tước hiệu Mẹ Hằng Cứu Giúp cho tất cả những ai đến cầu xin Mẹ với lòng tín thác.

Ý nghĩa bức linh ảnh

Các bức linh ảnh (i-côn) không đơn thuần là những bức tranh tôn giáo, mô tả vẻ đẹp thể lý như các bức tranh khác, mà nhắm tạo ra một sự nối kết và lôi cuốn người xem vào trong thế giới vinh quang của Chúa và Đức Mẹ. Theo quan niệm nghệ thuật Phương Đông, linh ảnh là nơi chính Thiên Chúa hiện diện: một sự hiện diện của Ân Sủng mà bức ảnh chuyên chở theo nó. Các nhân vật trong linh ảnh được vẽ không theo lối trình bày chính xác nhưng theo cách thức nhấn mạnh các chiều kích thiêng liêng của mầu nhiệm. Chiều kích nghệ thuật của bức tranh chỉ ở tầm mức thứ yếu. Điều quan trọng là chính Thiên Chúa, Đấng được diễn tả ngang qua nghệ thuật.

Linh ảnh thường do các tu sĩ vẽ. Đây là những con người có đời sống thần bí và thiêng liêng, đồng thời cũng có một kiến thức thấu đáo về thần học. Họ chuẩn bị bản thân cách thiêng liêng trước khi vẽ một linh ảnh, bằng cách ăn chay, cầu nguyện và sám hối. Họ sẽ suy gẫm lâu dài về chủ đề linh ảnh trước khi bắt tay vào việc, trong khi suy gẫm như thế, họ tìm kiếm ơn linh hứng từ Trên Cao, và họ thường quỳ để vẽ.

Linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp chúng ta có hiện nay là linh ảnh được vẽ theo chiều hướng ấy. Linh ảnh này mang những yếu tố của một truyền thống đã có từ trước, đó là truyền thống Đức Trinh Nữ Thương Khó (qua những biểu tượng của đồi Calvario), Đức Trinh NữHodigitria (Mẹ Chỉ Đường Của Chúa Giêsu), và Đức Trinh Nữ Eleusa(Đấng Cảm Thương).

Chữ tắt Hy Lạp MP OY = Mẹ Thiên Chúa.

Chữ tắt Hy Lạp OAPM = Tổng lãnh thiên thần Micael.

Chữ tắt Hy Lạp OAPG = Tổng lãnh thiên thần Gabriel.

Chữ tắt Hy Lạp IC XC = Giêsu Kitô.

Đức Trinh Nữ hơi nghiêng đầu sang bên phải; Mẹ đang nhìn người xem và đang ẵm Hài Nhi bằng tay trái, còn Hài Nhi thì đang nắm tay phải của Mẹ bằng cả hai tay của mình. Hài Nhi đang nhìn hướng lên và chân phải của Người bắt chéo không tự nhiên khiến cho lòng bàn chân có thể nhìn thấy được. Chiếc dép bên bàn chân này lỏng ra và sắp rớt xuống.

Hài Nhi có dáng dấp của một em bé 12 tuổi; nói cách khác, đó là dáng dấp của Chúa Giêsu, Đấng giờ đây ý thức bản tính thần linh của Người là Con Thiên Chúa. Người đang hướng nhìn lên, không phải hướng đến tổng lãnh thiên thần Gabriel đang cầm thánh giá, nhưng vượt quá thọ tạo thiêng liêng này để hướng nhìn đến Thiên Chúa, Cha của Người, Đấng ngự trên trời. Vì vậy, Đức Trinh Nữ Maria đang giới thiệu Con Thiên Chúa cho chúng ta, còn Con Thiên Chúa thì đang hướng về Cha trên trời.

Theo sách Rút, trao dép cho ai là ký kết một khế ướcvới người đó. Hài Nhi đang để cho chiếc dép rơi xuống hướng về chúng ta, thì điều đó mang ý nghĩa rằng Người đang thiết lập một khế ước với chúng ta: khế ước này là Giao Ước Mới.

Cùng lúc, Người đang cho ta thấy lòng bàn chân phải của Người. Trong biểu tượng ảnh Đông phương, phơi bày lòng bàn chân của ai là cho thấy bản chất người đó, trong trường hợp này, đó là bản tính nhân loại của Chúa Giêsu.

Tuy nhiên, cử chỉ này cũng có một ý nghĩa khác. Ai đụng vào mảnh đất có ý định muốn mua bằng lòng bàn chân của mình là dấu cho thấy rằng người đó đã trở thành chủ nhân của mảnh đất đó. Chúa Giêsu, khi trở thành con người và chạm chân vào cõi đất, đã tái tuyên bố chủ quyền của Người trên trái đất, trên tạo thành, và bằng cách phục hồi trở lại phẩm giá là con Thiên Chúa cho loài người, Người đã phục hồi quyền làm chủ của loài người trên tất cả tạo thành.

Nhìn chung, trong các linh ảnh Đông phương, màu đỏ chỉ thần linh, trong khi đó màu xanh đại diện cho loài người. Đức Trinh Nữ đang mặc áo dài màu đỏ tượng trưng cho thần linh và áo choàng màu xanh tượng trưng cho loài người. Họa sĩ đã nêu rõ vai trò thần linh của Đức Trinh Nữ bằng cách viết, ở phần trên của bức ảnh, từ “Theotokos” (Mẹ Thiên Chúa). Đức Maria không chỉ là mẹ của Đức Giêsu lịch sử mà còn là Mẹ của Con Thiên Chúa: nhờ việc trao ban Đức Giêsu thể lý, Đấng vừa là Chúa vừa là người, Mẹ đã trở thành “giống-Chúa”. Tuy nhiên, có một chi tiết trong bức ảnh này mà không tìm thấy ở nơi bức “Hodegetria” nào khác, và đây là điều mà họa sĩ muốn nêu rõ, đó là màu xanh lá cây ở lớp lót của áo choàng. Việc phối hợp các màu đỏ và xanh lá cây này đã được giữ lại dành riêng cho giới quý tộc. Đức Maria thật sự là Nữ Hoàng các thiên thần và các thánh.

Hài Nhi Giêsu mặc áo màu xanh lá cây và thắt đai lưng màu đỏ. Áo màu xanh lá cây với đai lưng đỏ, theo một số học giả, là màu tiêu biểu của Hoàng Đế Phương Đông; bằng cách này, họa sĩ đã nêu rõ phẩm tính cao cả của Chúa Giêsu, Đấng là Chủ Tể của tạo thành.

Phận vụ của hai Tổng lãnh thiên thần, đang cầm những biểu tượng của cuộc Thương Khó, thì không chỉ là trình bày những biểu tượng này cho Hài Nhi Giêsu Kitô, mà còn là để cho chúng ta thấy các phương tiện mà nhờ đó Chúa Kitô đã cứu chuộc loài người, và rằng đó là lúc “Người hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,8).

Đức Maria luôn hướng đến Chúa Giêsu; Mẹ không thể bị tách rời khỏi Người. Điều này là rõ ràng, thật sự rõ ràng, trong cách thiết kế của linh ảnh thánh này. Vì vậy, chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu và Mẹ Người với tất cả sự tự tin của một trẻ nhỏ cũng như tất cả ý thức thực tại của một người trưởng thành. Đừng bao giờ quên điều mà Sứ Thần truyền tin đã loan báo cho Đức Maria và chúng ta: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37).

 

…………………***………………….

TUẦN CỬU NHẬT KÍNH ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP

Ngày Thứ Nhất

Ngày Thứ Hai

Ngày Thứ Ba

Ngày Thứ Tư

Ngày Thứ Năm

Ngày Thứ Sáu

Ngày Thứ Bảy

Ngày Thứ Tám

Ngày Thứ Chin

* Kinh Cầu Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

* SẮC LỆNHCỦA ĐỨC CHÂN PHÚC GIÁO HOÀNG PIÔ IX

* LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA BỨCLINH ẢNH ĐỨC MẸ HĂNG CỨU GIÚP

* Tuần Cửu Nhật Kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

—————————-

…………………***………………….

`

Thông tin

Chia sẻ Lời Chúa

Tìm kiếm

Bài giảng- Thánh Lễ

Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

Facebook

Tin mới