Iran: “Một Giáo hội không có các vị Anh hùng Tử đạo cũng sẽ giống như một cái cây không sinh hoa trái”

Thứ Ba, 01-01-2019 | 17:03:59

Cuộc phỏng vấn với Đức Tổng Giám mục Ramzi Garmou Địa phận Teheran

Ngay sau khi Hoa Kỳ áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế mới đối với Iran, Đức Tổng Giám mục Ramzi Garmou Địa phận Teheran, đồng thời cũng là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Iran, đã phát biểu với Tổ chức Giáo Hoàng mang tên ‘Viện trợ các Giáo hội Đau khổ’ (ACN). Sinh ra trong lãnh thổ mà hiện nay được gọi là Kurdistan thuộc Iraq, Đức TGM Garmou đã sống tại Iran kể từ năm 1976 và là người đứng đầu Giáo hội Chaldean Iran nhỏ bé nhưng rất lâu đời.

Bắt đầu từ tháng 11, Hoa Kỳ đã áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế mới đối với quốc gia Iran mà ngài nhận là tổ quốc của mình. Xin Đức Cha cho biết tình hình vào lúc này thế nào?

Chẳng có gì mới khi Iran bị tấn công bởi các lệnh trừng phạt kinh tế. Tôi là một Kitô hữu gốc Iraq, mặc dù tôi đã sinh sống ở Iran từ năm 1976, và, tin tôi đi, những người đến từ khu vực này biết việc Mỹ sẽ bảo vệ lợi ích của chính mình, phải trả giá. Vào năm 2003, họ đã tàn phá đất nước của tôi với những cái cớ chẳng đáng kể và đồng thời mở rộng cánh cửa cho sự xuất hiện của Daesh (IS). Người dân Iran đã phải đối mặt với những khó khăn lớn trong việc tìm kiếm công việc và kiếm tiền, vì chi phí sinh hoạt cực kì đắt đỏ. Họ không đòi hỏi bất kỳ thay đổi chính trị lớn lao nào; họ chỉ muốn có công ăn việc làm và thức ăn để nuôi sống.

Giáo hội đang hỗ trợ những người thiếu thốn nhất bằng chính các nguồn lực của mình, đặc biệt là bằng cách giúp đỡ chi phí ăn học hoặc chi phí y tế, nhưng sức mạnh của Giáo hội trên hết là sức mạnh tinh thần và Giáo hội luôn luôn gần gũi với người nghèo.

Có phải các Kitô hữu tại Iran đặc biệt bị phân biệt đối xử?

Họ bị cấm nắm giữ một số chức vụ nhất định, chẳng hạn như hiệu trưởng các trường học, nhưng các cộng đồng Kitô giáo trước kia nói chung được hòa nhập tích cực trong xã hội Iran. Cộng đồng của chúng tôi đã trải qua một chặng đường dài! Cộng đồng Chaldean, hiện tại đã giảm xuống chỉ còn là một đàn chiên nhỏ bé gồm khoảng 4000 tín hữu, có từ thời các Tông đồ. Chính Thánh Tôma Tông đồ đã mang Tin Mừng đến Ba Tư và thiết lập Giáo hội của chúng tôi. Lịch sử này đã bị lãng quên ở một mức độ nào đó, nhưng chúng tôi thực sự đã gửi các nhà truyền giáo đi xa như Trung Quốc, rất lâu trước các cả các nhà truyền giáo phương Tây. Hiện tại, chúng tôi đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng mới, bắt đầu từ cuộc cách mạng của Ayatollah Khomeini vào năm 1979. Tất cả các trường học và bệnh viện Công giáo, vốn chính là một phần trong phạm vi hoạt động của chúng tôi, đều đã bị đóng cửa, do đó làm giảm đáng kể sự hiện diện của chúng ta trong xã hội.

Nhưng hãy nhìn lại lịch sử của chúng ta! Các Kitô hữu đã biết đến cuộc đàn áp kể từ thời kỳ đầu tiên, dưới Đế chế Sassanid của Ba Tư, cho đến thế kỷ thứ bảy. Thậm chí ngay cả tại thời điểm đó, các Kitô hữu đã bị nghi ngờ là những kẻ phản bội, liên kết với phương Tây. Sau đó, đã có những cuộc xâm lược của người Mông Cổ chẳng hạn. Nhưng trong mọi trường hợp, không có bất kì lý do nào để ngạc nhiên về điều này. Chính Chúa Giêsu đã cảnh báo các môn đệ trong Tin Mừng rằng họ sẽ bị bắt bớ vì Danh của Ngài. Tin Mừng tương ứng với những khát vọng sâu xa nhất của con người, nhưng việc loan báo Tin Mừng đi kèm với những cuộc bách hại, và thực sự kể từ thời điểm Lễ Ngũ Tuần và cho đến khi kết thúc cuộc lữ hành trần thế của Giáo hội. Một Giáo hội không có các vị anh hùng tử đạo cũng sẽ giống như một cái cây không sinh hoa trái!

Nhưng có phải là Ngài không lo sợ sự biến mất của các Kitô hữu Iran?

Tất nhiên, không cần phải nói rằng cuộc di cư hàng loạt của các Kitô hữu, và đặc biệt là những người trẻ tuổi và các thành viên tích cực nhất của chúng tôi, là một nguyên nhân gây lo ngại đối với chúng tôi. Tuy nhiên, chúng ta không nên nhìn vào tình huống từ một quan điểm quá con người. Sức mạnh và sự năng động của một cộng đồng Kitô giáo không phụ thuộc vào số lượng của nó. Bên cạnh đó, tôi tin rằng tình hình của chúng ta quả thực ít nghiêm trọng hơn so với các cộng đồng Kitô giáo ở phương Tây. Họ bị chìm ngập trong một môi trường mà trong đó phần lớn những người châu Âu không có đức tin hoặc thờ ơ, trong khi những anh chị em Hồi giáo lân cận của chúng ta lại chính là một lời nhắc nhở liên tục cho chúng ta về Thiên Chúa.

Điều quan trọng duy nhất đó là phải biết liệu chúng ta có thể làm chứng cho đức tin của mình hay không. Và điều này chúng ta có thể thực hiện – không cần công khai hay tự quảng cáo, mà chỉ đơn giản bằng cách sống như những người Kitô hữu. Và chúng ta đang chứng kiến những thành quả của việc này bởi vì nhiều anh chị em Hồi giáo đến gặp chúng ta và muốn tìm hiểu Sứ điệp Tin Mừng. Khi được hỏi về việc điều gì đã dẫn họ đến điều này, họ thường trả lời rằng đó là bởi vì họ quen biết một người hàng xóm Kitô giáo có đời sống gương sáng và họ muốn noi theo.

Ngài có thể nhận xét về sự quan tâm đến Kitô giáo ở Iran?

Đây chính là một câu hỏi cực kỳ tế nhị đối với chúng tôi. Và chúng ta nên chỉ ra ngay từ đầu rằng việc chuyển đổi sang Kitô giáo phần lớn là công việc của những người theo đạo Tin Lành. Đối với chúng tôi, chúng tôi đang bị giám sát chặt chẽ. Đôi khi xảy ra việc một người Hồi giáo muốn tham gia với chúng tôi, nhưng họ phải đối mặt với sự quấy rối nghiêm trọng, trước hết là từ chính gia đình của họ, và sau đó là từ chế độ. Chẳng hạn như, chúng tôi có hai chủng sinh vừa trải qua thời gian bị cầm tù, chính là bởi vì cả hai đều là những người cải đạo.

Đặc biệt, chúng tôi bị cấm cử hành Thánh lễ bằng tiếng Ba Tư. Chúng tôi yêu ngôn ngữ Aramaic của riêng chúng tôi, ngôn ngữ của chính Chúa Giêsu và chúng tôi nói ngôn ngữ này tại nhà riêng của chúng tôi. Thế nhưng, những người Iran không hiểu điều đó. Vì vậy, chúng tôi vẫn bị quy vào hạng thấp kém vì sử dụng ngôn ngữ này, và chúng tôi không thể truyền đạt đức tin của mình. Vì lý do tương tự, chúng tôi không được phép có được Kinh Thánh hoặc các tài liệu về tâm linh bằng tiếng Ba Tư.

Vậy làm thế nào để chúng ta giải thích bản dịch Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo bởi các Ayatollah Shiite người Iran?

Vâng, đây chính là một dấu hiệu hết sức đáng khích lệ về sự cởi mở từ phía các Ayatollah, những người quan tâm đến thông điệp của Giáo hội Công giáo. Câu chuyện này minh họa cho các câu hỏi đang được đặt ra bởi chính các nhà lãnh đạo tôn giáo Iran. Các giáo sĩ Shiite tôn trọng thẩm quyền luân lý quốc tế của Vatican. Và hơn nữa, đã có một đại sứ Iran tại Vatican và các sinh viên đi du lịch theo cả hai quốc gia. Iran quả thực đang hết sức cô lập; sống dưới áp lực thường trực từ phía Ả Rập Saudi và Hoa Kỳ. Đất nước chúng tôi cũng có thể thấy rằng họ có lợi ích trong việc duy trì quan hệ với phương Tây.

Đức Cha có thể giải thích thế nào về thực tế rằng một số người trẻ đang quay lưng lại với Hồi giáo ở một đất nước vẫn còn bị tôn giáo này thống trị?

Bằng cách áp đặt Hồi giáo bằng vũ lực, họ đang gây ra một phản ứng của thái độ từ chối trong giới trẻ, những người từ chối việc bị bắt buộc phải sống thế nào. Phản ứng này phần nào giải thích mối quan tâm đến Kitô giáo, Hỏa giáo và thậm chí đối với Ấn Độ giáo. Và kế đến, có những người khác từ chối tất cả mọi hình thức tôn giáo. Và đáng buồn thay, rất nhiều người trong số họ đang lạc lối trong ma túy, vì thiếu lý tưởng. Đó chính là một lối thoát dễ dàng, dễ dàng nằm trong tầm tay, và nhiều người trẻ đang đắm chìm vào đó.

Đức Cha có đôi chút chia sẻ gì với các nhà hảo tâm của ACN không?

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn ACN vì sự liên đới của quý vị với cộng đồng Kitô giáo xa xôi của chúng tôi. Quý vị đang cung cấp cho chúng tôi sự hỗ trợ quý báu về mặt vật chất. Và hơn thế nữa, bằng cách thông báo cho chúng tôi về tình hình của các Giáo hội đau khổ ở những nơi khác trên thế giới, quý vị đang giúp thúc đẩy tinh thần hiệp thông giữa các Kitô hữu, kể cả những người ở những khu vực xa xôi cách trở nhất về mặt địa lý.

Minh Tuệ chuyển ngữ

`

Thông tin

Chia sẻ Lời Chúa

Tìm kiếm

Bài giảng- Thánh Lễ

Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

Facebook

Tin mới