Đức Hồng Y Tobin: "Tôi hy vọng phụ nữ sẽ tiếp tục nói lên sự thật"

Thứ Sáu, 12-01-2018 | 07:58:40

Đức Hồng y Joseph W. Tobin, C.Ss.R., đã được ĐTC Phanxicô bổ nhiệm vào Hồng Y Đoàn vào ngày 9 tháng 10 năm 2016, trong khi Ngài đang phục vụ với tư cách là Tổng Giám mục Indianapolis. Ngay trước tuyên bố đó, ĐHY Tobin đã tham dự một buổi thảo luận cùng với Đức Giám mục Charles Thompson Địa phận Evansville tại hội nghị về phụ nữ trong vai trò lãnh đạo của Giáo hội Công giáo được tổ chức tại Ferdinand, Ind. Tôi đã đóng vai trò chủ tọa trong cuộc trò chuyện của họ. 

Vào ngày 6 tháng 1 năm 2017, Đức Hồng Y Tobin đã được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Địa phận Newark, và Đức Giám mục Thompson sau đó đã được bổ nhiệm là người kế nhiệm Ngài tại Tổng Giáo phận Indianapolis. Đức Hồng y Tobin và tôi một lần nữa đã gặp lại vào tháng Tám năm 2017 để nối lại cuộc trò chuyện của chúng tôi về vai trò của phụ nữ trong Giáo hội Công giáo. Cuộc phỏng vấn đã được chỉnh sửa và được cô đọng về độ dài cũng như sự rõ ràng.

ĐTC Phanxicô đã thu hút sự chú ý của nhiều người với lời mời gọi của mình để có được sự hiện diện của người phụ nữ sâu sắc hơn trong Giáo Hội. Vậy Đức Cha nghĩ gì về những ưu tư của ĐTC Phanxicô?

ĐHY Tobin: Tôi thiết nghĩ ĐTC Phanxicô đang nói chuyện ở một vài cấp độ, bởi vì Ngài tin vào ý thức về sự phân quyền và nguyên tắc bổ trợ. Ngài đã có một sự tôn trọng thực sự đối với các Giáo hội địa phương, nhưng thậm chí còn nhiều hơn thế nữa đối với mạng lưới các Giáo hội địa phương. Tôi thiết nghĩ Ngài không chỉ đơn giản là nghĩ đến sự lãnh đạo ở cấp độ Giáo hội hoàn vũ, mà còn là nói với các anh em Giám mục của mình. ĐTC Phanxicô nói rằng chúng ta cần phải đảm bảo rằng những món quà của phụ nữ đãược phản áh trong Giáo hội địa phương đã được ủy thác cho chúng ta.

Mỗi vị Giám mục, trước khi được tấn phong, phải trải qua một số nghi thức mà trong đó họ phải tuyên xưng đức tin và tự tuyên bố kết hợp với Giáo huấn của Giáo hội cũng như thừa nhận trách nhiệm của mình để phân biệt những quà tặng được trao phó cho Giáo hội địa phương và phối hợp chúng. Tôi thiết nghĩ nó cũng ở mức độ mà Đức Thánh Cha đang hy vọng đối với một tầm nhìn mới và một chân trời mới.

Mọi người dường như đang chấp nhận những điều mà ĐTC Phanxicô đang nói một cách tươi mới. Ngài có bất kỳ suy nghĩ nào về những điều khiến cho nó trở nên tươi mới? Bởi vì ĐTC Phanxicô không phải là người đầu tiên nói về những món quà của phụ nữ. 

Để tôi cho quý vị một sự tương tự. Giống như các vị Giáo Hoàng tiền nhiệm, ĐTC Phanxicô đã chọn khẩu hiệu ‘Servus servorum Dei’, “Tôi tớ của các Tôi tớ của Thiên Chúa”. Ngài đã sống khẩu hiệu ấy một cách rất rõ ràng, thông qua sự đơn giản trong đời sống hàng ngày, thông qua việc bác bỏ bất kỳ một sự phô trương vô nghĩa nào, bằng sự lựa chọn ưu tiên dành cho những người thường không có thể tiếp cận với Ngài.

Hy vọng của tôi đó là ĐTC Phanxicô sẽ không chỉ hài lòng với một kiểu ý thức hệ, bởi vì, như Ngài đã nói trong Tông Huấn “Niềm vui của Tin Mừng”, thực tế thì quan trọng hơn nhiều so với những ý tưởng. 

Xin Đức Hồng Y hãy cho biết những ví dụ về những lựa chọn cụ thể, những hành động cụ thể, mà ĐTC Phanxicô đã thực hiện để cho thấy điều này không phải là một ý thức hệ mà là một thực tế?

 Tôi nghĩ một điều chắc chắn đó là ủy ban nghiên cứu mà ĐTC Phanxicô đã bổ nhiệm để xem xét những vấn đề đối với phụ nữ trong chức vụ Phó tế. Đối với tôi, điều quan trọng không chỉ đơn giản là việc Ngài đã thành lập ủy ban này mà là người mà Ngài đã bổ nhiệm đứng đầu ủy ban. Ở đây từ Bắc Mỹ, chúng tôi rất vui mừng khi bà Phyllis Zagano, một phụ nữ uyên bác và cũng là một người phụ nữ hết sức thẳng thắn về vấn đề này, đã được bổ nhiệm làm người đứng đầu ủy ban nghiên cứu. Ngay sau khi tôi nghe điều đó, tôi đã nói, “Điều này sẽ đáng tin cậy”. Tôi nghĩ rằng những người khác đang làm việc trong ủy ban, mặc dù tôi không biết rõ họ, cũng sẽ cung cấp cho ủy ban này một sự tín nhiệm lớn hơn. Những điều ĐTC Phanxicô thực hiện với ủy ban này sẽ hết sức thú vị, nhưng tôi thiết nghĩ đó là một dấu hiệu đầy hy vọng.

Có một phụ nữ khác hiện đang là Hiệu trưởng của một trong những trường Đại học Giáo Hoàng ở Rôma [Nữ tu Mary Melone, S.F.A. thuộc Đại học Giáo Hoàng Antonianum), đây chính là một dấu hiệu khác cho thấy rằng trong lĩnh vực của giới học viện, phụ nữ đã đóng một vai trò quan trọng, thậm chí ngay cả trong lĩnh vực văn hoá Giáo hội. Đây chính là những cánh cửa đang mở ra. Tôi nghĩ rằng những con người này sẽ là một vài ví dụ điển hình. 

Xin Đức Hồng Y hãy nêu một số ví dụ về sự hợp tác của Ngài với những người phụ nữ?

Một nghiên cứu được thực hiện bởi CARA, Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Mục vụ Tông đồ (Center for Applied Research in the Apostolate), về vai trò của phụ nữ trong công việc lãnh đạo Giáo phận. Một trong những giả định của nghiên cứu này đó là nếu như phải cân nhắc cắt bỏ một số điều không cần thiết, vị trí quan trọng nhất hoặc có khả năng cắt bỏ nhất đối với phụ nữ ở cấp độ Giáo phận là gì? Họ đã chỉ định ba vị trí sau: hiệu trưởng, giám thị của các trường học và giám đốc tài chính.

Điều đó thuyết phục tôi về điều mà Đức Benedict XVI đã từng nói một cách thường xuyên về đời sống tu trì. Ngài nói rằng một Giáo phận hoặc một Giáo hội cụ thể không có tu sĩ thì quả là hết sức nghèo nàn. Điều đó không có nghĩa là nó không thể hoạt động, nhưng nó hoạt động như thể một hoặc cả hai cánh tay bị trói buộc phía sau lưng. Tất nhiên, hiện nay chúng ta có thể nói rằng thậm chí ngay cả với ví dụ đó mà Ngài đang nói về phụ nữ, bởi vì phụ nữ chiếm 80% đời sống tôn tu trì. Tôi nghĩ cũng tương tự như vậy, tôi không thể tưởng tượng việc một Giáo phận muốn thi hành trọn vẹn sứ mạng của Giáo hội mà không có tiếng nói của phụ nữ trong các quyết định của mình. 

Tại Tổng Giáo phận Indianapolis, tôi đặc biệt nghĩ đến bà Annette “Mickey” Lentz. Hiện tại bà đang phục vụ ở một số vị trí mà chúng ta thường không mong muốn bắt gặp một nữ giáo dân.

 Bà ấy đã có mặt và tham gia vào Linh mục đoàn, hội đồng bao gồm các vị Bề trên và ở tất cả các cấp lãnh đạo của Tổng Giáo phận. Bà ấy là gương mặt của Tổng Giáo Phận.

Điều gì thúc đẩy Ngài cổ võ và khuyến khích việc phụ nữ tham gia vào vai trò lãnh đạo, cho dù ở cấp địa phương hay ở cấp độ của Giáo hội hoàn vũ?

Tôi nghĩ rằng những giá trị được đánh giá cao nhất là những giá trị mà chúng ta đã trải nghiệm từ khi còn thơ ấu. Việc lớn lên trong một gia đình có rất nhiều phụ nữ – một người mẹ, hai chị gái của bà sống cùng chúng tôi và tám chị em gái – và việc thấy tất cả họ hăng hái và tự tin vào bản thân mình, với một sự kết nối rất mạnh mẽ và tự nguyện vào đức tin của họ, đã khuyến khích tôi. Trên thực tế, mọi người sẽ cảm ơn tôi hoặc từ khước tôi về những lập trường mà tôi đã thực hiện trong quá khứ. Tôi sẽ giải thích, đây là một điều gì đó mà tôi không phải suy nghĩ nhiều về điều đó.

Điều đã đánh động tôi trong những năm tháng sau đó, đặc biệt là những năm tháng trong sứ vụ của mình, đó là việc ngày càng nhận thức về việc phụ nữ đã có quá nhiều lý do như thế nào để từ bỏ Giáo hội – những hình thức của việc thiếu tôn trọng và thậm chí là không tôn trọng. Nếu ta nhìn vào Tin Mừng, Chúa Giêsu không có mối quan hệ tốt đẹp với những người công khai áp bức người nghèo. Và tôi nghĩ điều đó qquar nhiên đúng với phụ nữ, những người thường, đặc biệt là bên ngoài Bắc Mỹ, hình thành nên những người nghèo thật sự. Tội lỗi trước hết đó là không nhìn thấy họ và tiếp tục theo đường lối của chúng ta. Hoặc nếu chúng ta nhìn thấy họ thì lại băng qua phía bên kia đường.

Những chỉ dẫn về việc đào tạo chủng viện đã được công bố vào tháng 12 năm 2016 của Vatican (văn kiện “Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis”), nói về “ý nghĩa hình thành” về sự hiện diện của phụ nữ trong việc đào tạo chủng viện. Đức Cha sẽ hướng tới quá trình thực hiện những chỉ dẫn mới ở đây tại Hoa Kỳ [với tư cách là Chủ tịch Ủy ban Tu sĩ, Đời sống Thánh hiến và Ơn gọi của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ]. Khi suy nghĩ về việc đào tạo chủng viện, đặc biệt về việc đào tạo các chủng sinh để có mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với phụ nữ, Đức Cha sẽ mong đời điều gì trong 10 năm tới? 

Vâng, trước tiên, có một thách thức bao quát hàng giáo sĩ, không chỉ đơn thuần là một lối tư duy có khả năng dẫn đến việc sợ phụ nữ, mà đó là một lối tư duy khép kín. Đó chính là một tư tưởng khép kín vốn tin tưởng vào một đặc quyền nhất định. ĐTC Phanxicô đã từ khước điều đó.

Tôi thiết nghĩ điều quan trọng không chỉ đơn giản là tiếp xúc với phụ nữ trong các mối quan hệ lành mạnh mà còn là những mối quan hệ mà đôi khi khiến một giáo sĩ phải chịu trách nhiệm với một phụ nữ. Hiện tại tôi nhận thấy một điều vô cùng thú vị ở Indianapolis bởi vì có những người phụ nữ trong Trung tâm Công giáo, những người giám sát các giáo sĩ, linh mục và thậm chí cả các vị Giám mục. Tôi thiết nghĩ khả năng liên hệ theo cách thức đó đối với một người phụ nữ cũng rất quan trọng. Với hệ thống tổ chức của riêng cá nhân tôi, trước khi được tấn phong Hồng y và khi mới được tấn phong, tôi đã có được những người giám sát là phụ nữ, với tư cách là một giáo lý viên và sau đó là người tổ chức cộng đồng, và đó quả là một điều tốt đẹp.

Đức Cha đã lưu ý rằng đôi khi phụ nữ rời bỏ Giáo hội bởi vì họ cảm thấy rằng họ không được nhìn nhận hoặc không có chỗ cho những món quà của họ. Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng trong nhiều thiên kỷ, lần đầu tiên tại Hoa Kỳ, ngày càng có nhiều phụ nữ trẻ Công Giáo đang rời bỏ đức tin Công giáo hơn là các nam thanh niên Công giáo. Vậy Ngài sẽ nói gì với một cô gái trẻ đang cân nhắc việc họ có nên rời bỏ Giáo hội Công giáo hay không? 

Tôi nghe tuyên bố này và cảm thấy rất buồn. Tôi luôn luôn hỏi họ, “Bạn nghĩ gì về việc bạn sẽ rời bỏ Giáo hội?” Ít nhất với xác tín của tôi, đó không phải là một hội của những ông già lụ khụ. Đây chính là Thân thể Chúa Kitô, và đây chính là nơi mà Lời của Người được tuyên bố và các Bí tích được cử hành. Tôi sẽ không để bất cứ ai có thể khiến tôi từ bỏ xác quyết đó đó. Nói như vậy, tôi không muốn giảm thiểu những kiểu ác cảm mà tôi nghĩ rằng những người phụ nữ trẻ thường cảm nhận.

Tôi thiết nghĩ các Giám mục phải rất quan tâm đến điều này, vì những hàm ý đáng kinh ngạc của điều đó. Tôi có một người bạn thân, một nhà văn ở Anh, một người tự nhận mình là một người vô thần. Ông ấy cho biết một trong những trở ngại lớn của ông đó là cả cha mẹ ông đều là người vô thần, nhưng mẹ ông thì thuyết phục hơn. Ông ấy nói rằng tôi khó có thể vượt qua, bởi vì, tôi thiết nghĩ, tất cả những sự dưỡng dục mà ông ấy đã nhận được từ mẹ mình, ông ấy cũng đã tiếp nhận điều đó. Đó là người mà chúng ta có thể nhìn vào trên bình diện rộng lớn nếu những người phụ nữ trẻ tuổi không còn cảm thấy có sự kết nối đối với Giáo hội như một Bí tích cứu độ. Điều đó quả thực hết sức nghiêm trọng.

Tôi thiết nghĩ cách mà chúng ta có thể phản ứng lại đó là dành cho những người phụ nữ, những người còn ở trong Giáo hội, được trở nên cởi mở và nói về những nguyên do đằng sau. Để nói rằng, bất chấp những sự thất vọng và đau khổ, đây chính là lý do tại sao họ lại gắn bó với Giáo hội. 

Khi Đức Cha hướng đến tương lai, hy vọng của Ngài đối với phụ nữ trong Giáo hội là gì?

Thứ nhất, hy vọng của tôi đó là họ sẽ ôm lấy Giáo hội như là nhà của mình. Tôi nhớ lại vào năm 2010, tôi hứa sẽ hướng dẫn một cuộc tĩnh tâm dành cho các anh em tu sĩ của chúng tôi tại Ireland. Có rất nhiều sự xáo trộn ở đó, và hiện nay tình trạng này vẫn còn như vậy, trong Giáo hội Ireland. Có rất nhiều sự tức giận đối với Giáo hội thể chế. Tôi đã nói: Nhưng, anh chị em lắng nghe Lời của Thiên Chúa từ đâu? Anh chị em cử hành Thánh Lễ ở đâu? Giáo hội là gì? Đó chính là một ngôi nhà. Như tất cả anh chị em đều biết, Giáo hội quả thực là một ngôi nhà.

Định nghĩa ưa thích của tôi về dị giáo đó là việc không sẵn lòng để xử trí đối với sự phức tạp. Đó là mong muốn để đơn giản hóa mọi thứ thành một mẩu bánh nhỏ chỉ bằng một miếng cắn. Hy vọng của tôi đó là sự phức tạp của Mầu nhiệm của Giáo hội luôn luôn được tôn kính. Và những người không đánh mất niềm tin vào quyền năng của Chúa Kitô, hiện diện trong Giáo hội của Ngài. Và từ đó, chúng ta có thể giải quyết mọi thứ một cách đơn giản hơn.

Tôi hy vọng rằng phụ nữ sẽ tiếp tục nói lên sự thật và nói sự thật với những người có thẩm quyền khi họ cần. Và trên hết là họ không đánh mất đi niềm vui. Không đánh mất đi niềm vui mà chúng ta có bởi vì tình yêu diệu vời của Thiên Chúa.

Minh Tuệ chuyển ngữ