Tông đồ - Bác ái - Xã hội
 |
Sứ mạng chính yếu của Dòng Chúa Cứu Thế là loan báo Tin
Mừng cho người nghèo khổ. Tại Việt Nam, song song với
việc loan báo Tin Mừng, các thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế
đã thực hiện nhiều hoạt động tông đồ - bác ái. Đó cũng
là cách rao giảng rất gần với Chúa Giê-su : lời rao
giảng kèm theo việc làm. Ở mỗi cộng đoàn và tùy mỗi thời
điểm, hoạt động tông đồ - bác ái sẽ được thực hiện dưới
những hình thức và với những quy mô khác nhau, từ các
hoạt động cứu đói, chôn kẻ chết, cho đến việc thiết lập
các trung tâm huấn nghệ, giúp phát triển… |
|
Linh mục Âu-tinh Nguyễn Hoà Hiệp, vị mục tử chết vì lây bệnh từ những bệnh nhân do ngài chăm sóc trong nạn đói 1945 |
Trước hết là hoạt động tuyên úy bệnh viện và an ủi các bệnh nhân
lâm chung. Vào thời Pháp thuộc, cha Michel Laliberté làm tuyên
úy cho các bệnh nhân tại Bệnh viện Robin, Hà Nội. Từ nhiều thập
niên, các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế tại Sài Gòn đã thay nhau
liên tục đảm nhận (hoặc công khai hoặc âm thầm) nhiệm vụ tuyên
úy tại các bệnh viện trong thành phố lớn nhất nước này, đặc biệt
tại các bệnh viện Saint Paul và Bình Dân, với sự hỗ trợ đắc lực
của các nữ tu Dòng Thánh Phao-lô và Dòng Nữ Tử Bác Ái. Suốt ba
thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, cha Phan-xi-cô X. Lê Thanh
Châu, bác sĩ y khoa, luôn miệt mài phục vụ các bệnh nhân tại Huế
và Vĩnh Long, cả phần xác lẫn phần hồn.

Cha Henry Bạch
Văn Lộc trên đường đi giúp kẻ liệt tại các bệnh viện tại Sài Gòn, giữa thập niên 1990
Bên ngoài các bệnh viện, đặc biệt trong những tháng năm và tại
các nơi chốn thiên tai địch họa hoành hành, các tu sĩ, linh mục
Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam luôn nỗ lực cùng với mọi người góp
phần xoa dịu những nỗi đau lớn lao của rất nhiều anh chị em đau
khổ. Đôi khi những nỗ lực ấy đạt đến mức độ có thể nói là anh
hùng. Đó là vào năm Ất Dậu 1945, tại miền Bắc. Những người cao
niên còn rùng mình khi nhắc đến biến cố khủng khiếp của năm Ất
Dậu ấy. Chiến tranh, mất mùa, thiên tai cùng đến một lúc, làm
cho người miền Bắc náo loạn. Kẻ chạy giặc, người di tản. Kẻ chết
vì rét, người lả vì đói. Trước những thảm kịch đau thương đó,
các cha Louis-Philippe Vaillancourt, Denis Paquette, François
Laliberté, Gia-cô-bê Nguyễn Khắc Cân, Âu-tinh Nguyễn Hoà Hiệp và
các cha, các thầy khác thuộc Nhà Hà Nội đã tích cực cứu đói cấp
thời cho hàng ngàn người tại Hà Nội và một số vùng lân cận. Các
cha cũng tìm hết cách phục vụ các bệnh nhân vốn rất đông trong
những ngày đau thương đó : 900 giường bệnh cho gần 5000 bệnh
nhân. Nguyên việc lo cho những người Công Giáo trong số các bệnh
nhân đông đảo được lãnh nhận các bí tích sau hết đã là một công
tác rất nặng rồi, chưa nói đến biết bao công việc khác. Thế mà
mỗi ngày các ngài còn rửa tội cho khoảng gần 30 người trưởng
thành. Đặc biệt, chính các cha đã đi gom xác của những người
chết (vì bất cứ lý do gì) mà chưa có thân nhân chôn cất, để lo
mai táng cho họ xứng với địa vị con người, con cái của Thiên
Chúa. Và các cha đã hy sinh quảng đại đến nỗi cha Âu-tinh Nguyễn
Hoà Hiệp (32 tuổi) đã từ trần vì lây bệnh hiểm nghèo từ các bệnh
nhân mà ngài chăm sóc!
23 năm sau, tại cố đô Huế, chiến sự ác liệt hồi Tết Mậu Thân
(1968) khiến dân chúng hoảng loạn, chạy đến Tu Viện Dòng Chúa
Cứu Thế Huế xin ẩn náu để tránh bom đạn. Nhà Thờ (trừ cung
thánh) và tất cả tầng trệt của Tu Viện và Đệ Tử Viện đã trở
thành nơi trú ẩn cho hơn 5000 người, trong hơn một tháng rưỡi.
Sau đó vài năm, vào tháng 04-1972, cũng để tránh đạn bom, dân
chúng vùng Quảng Trị ồ ạt chạy vào Huế, ẩn náu nhiều nơi. Trường
Việt Hương và phòng khánh tiết của Đệ Tử Viện Huế đã được biến
thành nơi ăn chỗ ở của hàng ngàn người tị nạn. Mùa xuân 1975,
hàng ngàn người chạy loạn, đổ xô về Sài Gòn. Tu Viện, Học Viện
và Đệ Tử Viện Dòng Chúa Cứu Thế Thủ Đức đã rộng mở đón tiếp rất
nhiều người tìm đến ẩn náu.
Không chỉ trong thời chiến, ngay trong những ngày tháng hòa
bình, khi thiên tai xảy ra, như tại miền Trung trong những trận
lũ lụt kinh hoàng năm Thìn 1964 và cuối năm Mão 1999, các linh
mục, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế luôn sẵn sàng cùng với Giáo Hội
Công Giáo Việt Nam nói riêng và toàn thể dân tộc nói chung, góp
phần nhỏ bé của mình xoa dịu nỗi đau của hàng ngàn người bất
hạnh.
 |
Ngoài những dịp đặc biệt như thế, nỗi đau của những con người bất
hạnh vẫn cất tiếng tha thiết, vẫn vang vọng trong tâm hồn các linh
mục, tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Trong số các hoạt động phong
phú và đa dạng của các thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế trong lãnh vực
tông đồ - bác ái, phải kể đến những hoạt động nổi tiếng và hữu hiệu
của các cha Lucien Olivier, Lu-y Nguyễn Văn Quy tại miền Nam trước
năm 1975.
Linh mục Lucien Olivier |
Cha
Lucien Olivier (1904-1987) được nhiều anh em trong Dòng nhắc đến như một
"chuyên viên" giải tội. Hối nhân của ngài rất đa dạng, nhưng đông nhất là
các cô gái lầm lỡ. Từ khi biết được tình trạng bế tắc của các cô gái không
có chồng mà có thai, cha đã bắt đầu mời gọi một số gia đình giáo dân đạo đức
nhận giúp các cô. Nhưng chỉ mới gửi được một vài người, những bất tiện của
cách làm này đã lộ khá rõ. Vì thế, cha Lucien Olivier đã quyết định thiết
lập các ngôi nhà mà ngày nay người ta gọi là các "nhà tạm lánh" ở giữa cộng
đồng dân cư lao động. Từ khi khởi sự cho đến trước lúc bị trục xuất về
Canada (1976), cha đã lập được 11 ngôi nhà như thế. Khi các vấn đề của các
cô gái lỡ lầm đã có hướng giải quyết, vấn đề của những đứa con của các cô
lại được đặt ra. Cha Lucien Olivier chọn giải pháp : sau khi sinh, nếu các
cô muốn giữ con lại, cha sẽ giúp nuôi các cháu đến 3 tuổi, rồi người mẹ sẽ
rước cháu về; còn nếu cô nào không muốn nhận con, thì ngài sẽ nuôi luôn. Một
cô nhi viện đã được thành lập ở Bình Lợi để nuôi dạy các cháu ấy. Vào những
ngày cuối tháng 04-1975, cha Lucien Olivier đã liên lạc để đưa tất cả các
cháu thuộc cô nhi viện này sang Hoa Kỳ. Hiện nay, từ năm 1997, công việc
tông đồ đặc biệt này của cha Lucien Olivier được một linh mục trẻ trong Tỉnh
Dòng tiếp bước sau 22 năm bị gián đoạn.
Hoạt
động tông đồ - bác ái của cha Lucien Olivier không chỉ dừng ở đó, mà còn tỏa
ra đến những người nghèo bình thường ở thành thị. Suốt 23 năm cuối cùng ở
Việt Nam, cha Lucien Olivier đã hết mình trợ giúp những nghèo thành thị, và
ngài đã thực hiện những hoạt động này rất hiệu quả, dù gặp rất nhiều khó
khăn. Thầy Tô-ma Đặng Văn Như là một trong những người đã sát cánh với ngài.
Hai dãy nhà phía sau Trường Cứu Thế (nay là Trường Kỳ Đồng, Thành Phố Hồ Chí
Minh) là một bằng chứng cụ thể cho những hoạt động này. Các cơ sở đó, sau
ngày 30-04-1975, một phần bị tư hữu hóa cho những hộ gia đình ở nhờ và tự
đăng ký với Nhà Nước là của mình, còn phần khác (gồm các cơ sở lớn) đã bị
quốc hữu hóa.

Tại cư xá Notre Dame do cha Lucien Olivier tạo lập
Cha Lu-y
Nguyễn Văn Quy là một trong những thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam dấn
thân tích cực trong các hoạt động chăm sóc trẻ bụi đời. Ngài đã tổ chức một
trung tâm khá quy mô ở Vũng Tàu để nuôi dưỡng và dạy dỗ các em. Ở đây, trẻ
bụi đời được tự do ra vô theo ý mình, và các em cũng được tổ chức để tự chăm
sóc cho nhau; cha Lu-y chu cấp cho các em về vật chất. Nhiều người đã trưởng
thành từ trung tâm nay kể lại rằng tại trung tâm có lò bánh mì. Anh em làm
bánh mì rồi mang đi bán. Bữa nào bán không hết mang về ăn thay cơm. Có đợt
ăn tới mấy ngày mới hết bánh mì. Sau này, khi qua Pháp, cha Nguyễn Văn Quy
lại tiếp tục chăm sóc cho trẻ bụi đời người Việt Nam tại Pháp. Hoạt động của
ngài hiệu quả đến mức chính quyền thủ đô Paris đã cấp cho ngài một toà nhà
để lo cho các em.
Nếu
những hoạt động của các linh mục như cha Lucien Olivier và cha Lu-y Nguyễn
Văn Quy nhắm trước hết đến những người nghèo thành thị và những thành phần
xã hội đặc biệt tại thành thị, thì những hoạt động tông đồ - bác ái của các
thừa sai tại các vùng truyền giáo của Tỉnh Dòng lại được thực hiện ở diện
rộng hơn, nhắm phục vụ tất cả những người nghèo khó và đau khổ tại một vùng
địa lý rộng lớn.
Tại Fyan
và Kontum, từ nhiều chục năm qua, không ai có thể phủ nhận những đóng góp
hết sức tích cực và hữu hiệu của các thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế (người
Canada và người Việt Nam) trong những công cuộc xoa dịu nỗi đau khổ của hàng
ngàn dân chúng nghèo khổ thuộc các sắc tộc thiểu số khác nhau. Riêng tại
Kontum, bên cạnh các hoạt động bác ái, các thừa sai truyền giáo còn kiên trì
và dũng cảm thực hiện những hoạt động rất tích cực trong lãnh vực bảo vệ di
sản văn hóa của các dân tộc thiểu số, nhất là của dân tộc J'rai. Đó cũng là
một "mặt trận" quan trọng trong lãnh vực hoạt động xã hội. Tuy nhiên, do
nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau, các hoạt động tông đồ trong
lãnh vực bác ái - xã hội tại các vùng truyền giáo Fyan và Kontum đã không
được tổ chức quy mô như tại các vùng truyền giáo Châu Ổ (trước năm 1975) và
Cần Giờ (từ cuối thập niên 1980).
Ngay từ
khi công cuộc truyền giáo tại Châu Ổ khởi đầu (1963), các hoạt động tông đồ
- bác ái đã được thực hiện. Điểm đặc biệt của hoạt động tông đồ - bác ái ở
đây là nhắm nhiều đến phát triển. Để giúp thanh thiếu nhi nghèo được giáo
dục và đào tạo, các thừa sai đã xây dựng và đưa vào hoạt động nhà trẻ mồ côi
(hợp tác với các nữ tu Dòng Thánh Phao-lô), nhà văn hóa, trường dạy nghề,
lưu xá học sinh. Bên cạnh đó, các ngài còn thành lập Nghiệp đoàn xe thồ
(liên kết những người chạy xe thồ lại để nâng đỡ tinh thần và giúp họ cách
tự giúp nhau làm ăn), thành lập Tập đoàn Lưới Cao giúp vốn và tạo quỹ tiết
kiệm giúp những người nghèo (đa số là người lương) mua lưới, mua ghe để làm
ăn, cải thiện đời sống. Hoạt động này sau năm 1975 vẫn được duy trì, nhưng
các linh mục không còn được phép điều khiển nữa, mà do Nhà Nước. Ngoài ra,
các thừa sai cũng mở phòng khám bệnh miễn phí, tổ chức những hoạt động cứu
trợ lũ lụt (năm Thìn 1964). Các hoạt động giáo dục cũng là một nét son đặc
biệt của các thừa sai truyền giáo Dòng Chúa Cứu Thế tại Châu Ổ trước năm
1975.

Tại Trường huần nghệ Châu Ổ
Từ sau biến cố 1975 đến nay, đặc biệt là từ đầu thập niên 1990,
Cần Giờ là nơi các hoạt động tông đồ - bác ái của Dòng Chúa Cứu
Thế Việt Nam được tổ chức thành trung tâm ổn định, quy củ và quy
mô nhất. Năm 1991, cộng đoàn Cần Giờ thành lập phòng khám bệnh
và phát thuốc miễn phí vào thứ bảy hằng tuần. Phòng khám này
cũng cung cấp thuốc cho một số đợt khám bệnh miễn phí của Hội
Chữ Thập Đỏ huyện Cần Giờ. Cũng trong năm 1991, một nhà dưỡng
lão được hình thành để nuôi và chăm sóc các cụ già không có con
cháu hoặc bị con cháu bỏ rơi. Hầu hết các cụ đều có bệnh hay
tật. Năm 1992, Trường khuyết tật được thành lập để điều trị và
nuôi dưỡng các em bại liệt, câm điếc, mồ côi… trong huyện Cần
Giờ. Hiện nay, Trường có 20 em nội trú và 40 em ngoại trú.

Phòng dạy may thuộc Trường dạy nghề Thanh Tâm (Cần Giờ)
Trước đó, trong xu hướng góp phần phát triển xã hội, lưu xá cho
các học sinh đã được thành lập từ năm 1988, để cho các em học
sinh nghèo và ở xa nhà trường đến ở. Nơi đây, các em được chăm
sóc sức khỏe, ăn uống và học hành. Hiện nay có 50 em đang lưu
ngụ tại đây. Cộng đoàn Dòng Chúa Cứu Thế Cần Giờ cũng mở các
điểm dạy nghề (vi tính, may, hàn, tiện, sửa xe…) miễn phí cho
người nghèo ở Cần Giờ, An Nghĩa, An Thới Đông. Mỗi năm có khoảng
100 thanh thiếu niên tốt nghiệp các lớp vi tính, 10 thợ hàn tiện
và 20 thợ may ra trường. Cộng đoàn Cần Giờ còn góp phần giải
quyết việc làm cho một số những người có hoàn cảnh khó khăn bằng
cách tạo ra những công ăn việc làm phù hợp với đời sống dân địa
phương (như làm nước mắm chẳng hạn).
Tại các Tu Viện Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn và Hà Nội, các hoạt
động tông đồ - bác ái cũng đang được thực hiện khá mạnh, dưới
nhiều hình thức và với nhiều quy mô. Tại Hà Nội, các hoạt động
tông đồ - bác ái do chính cha Bề Trên Trịnh Ngọc Hiên đảm nhận.
Tại Sài Gòn, cha Bùi Thông Giao được cử đặc trách công tác này.
Quý cha Lê-ô Lê Trung Nghĩa, Rô-cô Nguyễn Tự Do, Hi-la-ri-ô
Nguyễn Gia Tước, Mát-thêu Vũ Khởi Phụng và các cộng tác viên của
các ngài, thường thực hiện những hoạt động tông đồ - bác ái "lưu
động", tức là tại nhiều nơi trên khắp Đất Nước, nhất là tại các
trại phong.

Cha Nguyễn Tự Do và Gia Đình Tình Thương thăm một trại phong (1999)
Hiện nay, ngoài một số hoạt động như lớp học tình thương, phòng
khám bệnh miễn phí ở các nơi và các chuyến công tác xã hội được
thực hiện đều đặn ở các cộng đoàn, một số anh em trẻ đang hiện
diện cách tích cực trong các hoạt động tông đồ - bác ái dưới
những quy mô khác nhau, của xã hội hay của các Hội Dòng khác.
Có hai loại hoạt động khác cũng có thể kể vào số các hoạt động
tông đồ - bác ái - xã hội : tuyên úy trại giam và tuyên úy quân
đội. Trong các hoạt động tuyên úy, có lẽ tuyên
úy quân đội là quy mô nhất. Các cha Dòng Chúa Cứu Thế tham gia
địa hạt này khá nhiều. Có nhiều cha đã có mặt ngay tại trận mạc
để dâng thánh lễ, ban các bí tích cho các quân nhân Công Giáo.
Một công trình có ảnh hưởng rất lớn trong giới quân nhân Công
Giáo và trong gia đình họ (trước và cả sau năm 1975) là chiến
dịch "Mỗi Quân Nhân một Tân Ước" do các cha Dòng Chúa Cứu Thế
chủ trương và thực hiện. Sau ngày Đất Nước thống nhất, các
cha tuyên úy quân đội phải đi học tập cải tạo nhiều năm. Hoạt
động tuyên úy quân đội chấm dứt. Về hoạt động tuyên úy trại
giam, trước năm 1975, đây là một hoạt động được các nhà chức
trách công nhận công khai, nhưng sau này, mọi hoạt động trong
lãnh vực này đều phải diễn ra trong tư cách của những thân nhân
đi thăm nuôi các tù nhân. Thiên Chúa luôn luôn có cách để an ủi
và nâng đỡ con cái Người.
Quy Luật
Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam (1983) khẳng định : “Công cuộc
phát triển con người và xã hội không phải là một công tác phụ
thuộc và phương tiện cho việc rao giảng Tin Mừng, mà thực là một
thành phần trọn vẹn của sứ vụ Dòng Chúa Cứu Thế” (chương I).
Khẳng định đó đã được các hoạt động phong phú của các linh mục,
tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam chứng thực hùng hồn.