Cha Daniel Berrigan và Thuyết Bất Bạo Động

Thứ Sáu, 13-05-2016 | 17:13:41

Về lý thuyết và việc thực hành sự kháng cự bất bạo động, Đức Hồng Y Francis George đã đưa ra một câu trả lời mà tôi chưa bao giờ nghe trước đó, và thẳng thắn mà nói, là tôi chưa từng nghe…

Tuần trước, Cha Daniel Berrigan, S.J. đã qua đời ở tuổi 94. Mặc dù nhiều người Công giáo trẻ có thể không nhớ ngài, nhưng Cha Berrigan là một trong những nhân vật tôn giáo gây phẫn nộ và tranh cãi nhiều nhất của thời ngài. Đứng trong truyền thống của nguyên tắc bất bạo động được khởi xướng bởi Mahatma Gandhi, Thomas Merton, Dorothy Day, và những vị khác, Cha Berrigan đã dẫn đầu những cáo buộc chống lại sự tham gia của Hoa Kỳ vào cuộc chiến ở Việt Nam và sự tham gia của nước này vào Cuộc Chiến Tranh Lạnh và cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân. Ngài nổi tiếng nhất, tất nhiên, về tài lãnh đạo với tổ chức “Catonsville Nine”, một nhóm những người bất đồng chính kiến là những người, vào mùa xuân 1968, đã đột nhập vào một toà nhà và đốt các bản dự thảo bằng bom tự chế. Có thể nói rằng ngài, trong suốt thời kì đầy biến động trong lịch sử nước Mỹ, là một nhân vật phân cực có lẽ không dễ hiểu thấu.

Tôi đã có cơ hội gặp gỡ và trò chuyện với Cha Berrigan khi ngài đến Chủng Viện Mundelein vào giữa những năm 1990. Vào thời gian đó, ngài đã ở độ tuổi 70, với rất nhiều phẩm chất mê hoặc đã từng làm cho ngài ghi đậm dấu ấn vĩ đại trong thời kì đỉnh cao của ngài. Tôi thấy ngài điềm tĩnh và đầy suy tư. Tôi đã hỏi ngài về bộ phim The Mission, mà trong đó ngài đóng một vai nhỏ. Như bạn có thể nhớ lại, thì bộ phim tuyệt vời ấy kết thúc rất mơ hồ. Khi sứ mạng hoà bình và mang tính tôn giáo đã bị buộc phải kết thúc bởi những thế lực hư hỏng, nhân vật Robert De Niro, một linh mục Dòng Tên, đã kháng cự lại một cách đầy bạo lực, trong khi nhân vật Jeremy Iron, cũng là một linh mục Dòng Tên, lại kháng cự lại một cách bất bạo động, tay cầm Thánh Thể ở giữa người dân của Ngài. Vì cả hai người đã bị giết hại, và sứ mạng bị huỷ diệt, bộ phim không thực sự quyết định ai trong số họ đã “đúng”; mà thay vào đó nó cho thấy hai con đường, và mời gọi người xem hãy tự quyết định lấy. À, tôi đã hỏi Cha Daniel Berrigan rằng ngài nghĩ gì về phần kết, và ngài nói, với một chút nụ cười mỏi mệt, rằng nó phản ánh các quan điểm của đạo diễn chứ không phải quan điểm của ngài. Tôi hiểu ngài có ý muốn nói rằng ngài đã không hoàn toàn chấp nhận sự căng thẳng không được giải quyết giữa hai con đường kháng cự lại sự dữ, nói đến sự thừa nhận rõ ràng về tình trạng bất bạo động.

Chỉ vài năm sau khi tôi gặp Cha Berrigan, tôi được nghe Đức Hồng Y Francis George diễn thuyết tại Đại Học Notre Dame. Trong phần trao đổi, ngài đã được hỏi về lý thuyết và việc thực hành sự kháng cự bất bạo động. Đức Hồng Y đưa ra một câu trả lời mà tôi chưa bao giờ nghe trước đó và thẳng thắn mà nói là tôi chưa từng nghe: Giáo Hội cần những con người của hoà bình theo cùng một cách thế mà Giáo Hội cần đến những người sống khiết tịnh, để làm chứng cho biến cố cánh chung ngay từ bây giờ giữa một thế giới đang sụp đổ. Vào thời điểm cánh chung của mọi sự, chúng ta sẽ không còn dựng vợ gả chồng nữa, vì hôn nhân sẽ được biến thành một kiểu tình yêu gần gũi vượt ra khỏi khả năng tưởng tượng của chúng ta. Sự khiết tịnh của hàng giáo sĩ và của tu sĩ làm chứng, ngay ở trần gian này, cho tình trạng lạ lùng và kỳ thú của những sự việc đó, vốn là lý do vì sao đối với các công dân của thế giới tội tình này, sự khiết tịnh đó luôn luôn như có gì đó “lạ lẫm”. Một cách hết sức tương tự, theo ý Đức Hồng Y, những người sống trong tình trạng dứt khoát bất bạo động đang làm chứng, ngay hôm nay, cho thời đại sẽ đến, thời “sư tử sẽ nằm với chiên” và “người ta sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái”.

Đức Hồng Y George tiếp tục: “Giờ đây cũng như tôi không muốn mọi người sống đồng trinh thế nào, thì tôi cũng không muốn mọi người trở thành nhà hoà bình như vậy!” Ngài có ý nói: thật là vô trách nhiệm nếu các sở cảnh sát, những đội quân ở mặt trận, và những nhà cầm quyền chính trị ngay chính, lại hoàn toàn chối bỏ bạo lực, bởi vì điều này có thể tương đương với sự rũ bỏ trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ những người vô tội. Dĩ nhiên, ngài đang nói theo truyền thống đáng kính của Công giáo về chiến tranh chính nghĩa, vốn dạy rằng, với những điều kiện nghiêm ngặt, chiến tranh là được phép, để đảm bảo công lý và an ninh.

Điều tôi đặc biệt trân trọng trong phần trình bày của Đức Hồng Y George là cách thức khéo léo trong đó ngài trình bày cả/và cho người Công Giáo những suy tư về vấn đề gây tranh cãi nổi tiếng này. Chúng ta bảo vệ vị thế hợp pháp của bạo lực trong những hoàn cảnh cụ thể thế nào, thì chúng ta cũng bảo vệ vị thế hợp pháp của những hình thức kháng cự bất bạo động như vậy. Và để cổ võ cho chủ thuyết hoà bình theo đúng như nó là, cần nói rõ rằng tình trạng bất bạo động sẽ không tương đương với sự thụ động hay sự thoái thác mộng mơ khi đối diện với sự dữ. Điều đã trở nên quá rõ ràng trong hành động xã hội của Gandhi, Martin Luther King, Dorothy Day, và Gioan Phaolô II là việc chủ thuyết hoà bình có thể tạo nên một phương thế lan toả hữu hiệu của cuộc chiến chống lại sự dữ và mang lại sự thay đổi thật sự. Rõ ràng khi được thực hiện trong hiện tại như tất cả chúng ta sẽ sống trong thời cánh chung, những cổ võ cho tình trạng bất bạo động sẽ gieo trồng những hạt giống của sự sống đời đời ngay trên mảnh đất của cái thế giới đang sụp đổ này.

Thực ra, Đức Hồng Y George đã nói rõ ràng hơn so với phần kết của bộ phim The Mission. Truyền thống Công Giáo không rõ ràng ủng hộ bất cứ vị nào trong cả hai vị linh mục Dòng Tên, và truyền thống này luôn sẵn sàng công nhận cả hai vị linh mục Dòng Tên ấy – một lần nữa, tuỳ thuộc hoàn cảnh. Vậy, việc tôn vinh đường lối bất bạo động cách dứt khoát và mang tính ngôn sứ mà Cha Berrigan cổ võ, có phù hợp? Tất nhiên là phù hợp – nếu, đồng thời, chúng ta khẳng định rằng chúng ta không muốn mọi người đều trở nên giống như Cha Berrigan.

Robert Barron – Giám Mục Phục Tá TGP Chicago

(Hoà Bình chuyển ngữ, từ ZENIT)

Chia sẻ Lời Chúa

Chủ đề quan tâm

Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

Tìm kiếm

Bài giảng- Thánh Lễ